Thứ Ba, 27 tháng 10, 2015

Mùa thu xứ Mường

(BLC) - Đã lâu lắm rồi mới có cảm giác một mình thong dong giữa mùa thu như vậy. Thu vùng cao Tây Bắc đẹp quyến rũ đắm say. Tôi đi trên những cung đường vòng vèo lưng chừng núi, ngắm sắc thu vùng cao Mường Khương mà lòng cứ miên man cảm xúc khó tả.

Sáng đầu thu trong trẻo. Cái rét se se ngọt ngào mơn man da thịt. Sau giấc ngủ đêm, Mường Khương như sơn nữ vẫn còn mơ màng, nũng nịu trong chiếc chăn bồng bềnh sương trắng. Ấy vậy mà khi mặt trời lên, phía đông ửng hồng, cả thị trấn miền sơn cước cứ dần hiện ra trong màn sương như ở xứ sở thần tiên. Tôi thích sự tĩnh lặng của buổi sớm mùa thu nơi đây. Tuyến đường còn vắng người và các phương tiện qua lại. Trong đêm, những chiếc lá vàng lặng lẽ rời cành, khẽ rơi xuống lòng đường và sống nốt quãng thời gian ngắn ngủi của đời lá trước khi dòng xe qua lại phủ lên một lớp bụi đường.

Từ ban công nhà khách Ủy ban nhân dân huyện nhìn ra xa, dải sương sớm như chiếc khăn bông trắng hững hờ giăng ngang sườn núi. Nắng lên. Nắng thủy tinh dịu dàng đậu trên những vòm lá non. Thứ nắng mới còn tinh khôi trải trên sườn núi xuyên qua lớp sương mỏng đang bay lên như khói nhẹ.
Dulichgo
Mới hôm nào, thị trấn Mường Khương tan hoang sau cơn giận dữ của trời. Trong cơn giông lốc, đá từ trên cao trút xuống khiến hàng ngàn mái nhà không còn đến một viên ngói lành lặn. Những mái nhà lợp bằng tôn dày cũng bị đá bắn thủng lỗ chỗ và gió bão xé rách toang như người đàn bà cả giận xé một cái áo cũ. Thế mà hôm nay, những mái nhà lợp ngói mới trắng lấp lóa trong nắng sớm mùa thu. Những trường học cũng được sửa sang, quét lại vôi, chuẩn bị đón mùa khai giảng mới.

Từ trên cao nhìn xuống, cánh đồng Tùng Lâu xanh mướt màu lúa non. Huyện nghèo Mường Khương đã hồi sinh. Thật cảm phục cho bản lĩnh kiên cường và nghị lực của con người nơi đây. Trong thiên tai, tận cùng khó khăn, người Mường Khương, các dân tộc Mường Khương đã đoàn kết, xiết chặt tay nhau, không ngừng vươn lên xây dựng cuộc sống mới.

Lên xứ Mường không có gì thích bằng được phóng xe máy trên những cung đường đèo dốc quanh co lưng chừng núi, khám phá sự hùng vĩ của núi non. Sắc thu vùng cao đẹp đến sững sờ. Trên sườn núi cao, ngoài những thảm ngô vàng rực, cây lá đã bắt đầu đổi màu theo cái lạnh đầu mùa. Thỉnh thoảng lại bắt gặp một cây khoe màu lá đỏ rực như đốm lửa. Người không có tâm hồn nghệ sĩ cũng phải dừng lại một chút, thả hồn theo mây núi. Tạo hóa đã ban phát cho nơi đây những dãy núi liền núi cứ nhọn hoăn hoắt sừng sững thách thức thời gian.

Mường Khương như công viên đá. Con người nơi đây sống hòa hợp với đá và chinh phục đá bằng bản lĩnh kiên cường. Những nương ngô, lúa, lạc, đậu tương vẫn vươn lên xanh tốt để đến mùa thu lại vàng rực sườn đồi. Mùa thu cũng là mùa đồng bào vùng cao Mường Khương hối hả lên nương bẻ ngô, gùi từng gùi nặng về nhà.
Dulichgo
Từ thị trấn Mường Khương, qua Nấm Lư lên Lùng Khấu Nhin, tôi mải mê ngắm những ngôi nhà nhỏ được tô điểm thêm màu vàng rực rỡ của những cây sào phơi ngô trước cửa, sân phơi ngô vàng ươm trong nắng. Mùa thu, thang gác nhà nào cũng trĩu xuống…

Trong hành trình khám phá xứ Mường, tôi lạc vào chợ phiên Lùng Khấu Nhin nhộn nhịp bên đường. Bà cụ người Mông từ Cao Sơn đem xuống chợ gùi nặng toàn những quả dưa “ngố” vỏ màu vàng ruộm, mập mạp như quả bí đao. Ngỡ là dưa già, nhưng không phải. Giống dưa vùng cao là thế, bổ ra ruột xanh, ăn vào thấy vị thơm mát. Chả thế mà đồng bào đi làm nương vừa đói vừa mệt, cứ ngồi dưới tán cây, ăn quả dưa là bao nhiêu mệt mỏi tan biến hết. Mường Khương là xứ sở của ớt. Loại ớt ngon nổi tiếng làm nên thương hiệu “Tương ớt Mường Khương” được khắp trong Nam, ngoài Bắc biết tới. Ở chợ phiên này, ớt tươi được bày bán thành từng dãy. Chị bán hàng váy thổ cẩm sặc sỡ, tươi cười đong từng bát ớt chín đỏ cho khách.

Mấy tốp thiếu nữ Mông rủ nhau đi chơi chợ chọn mua váy áo, chẳng son phấn gì mà cô nào má cũng hây hây, đôi môi đỏ mọng như trái ớt chín trên nương. Đang giơ máy ảnh lên bấm nhiệt tình, đi ngang khu chợ ăn uống bụng bỗng cồn cào vì mùi phở thơm quá. Cô chủ quán người Nùng tươi cười: Anh ơi, vào đây ăn bát phở Lùng Khấu Nhin xem có ngon như phở ngoài phố không! Phở nóng, ăn giữa cái rét đầu thu, cho thêm miếng dạ dày lợn bản, ít hành lá, cắt thêm vài lát ớt vào. Chà! Cay xè mũi! Ăn vào mà xuýt xoa, nhưng rõ ràng ngon hơn ngoài phố. Đoàn khách Tây đến thăm chợ Lùng Khấu Nhin cũng háo hức vào quán. Anh bạn người Mông bên cạnh rót chén rượu ngô mời. Uống xong, cả ta lẫn Tây đều nhăn mặt, rồi bắt tay cười thích thú.
Giữa trưa, nắng đã lên cao, nền trời xanh ngắt, rời chợ Lùng Khấu Nhin về thành phố Lào Cai mà vẫn còn vấn vương với vẻ đẹp mùa thu xứ Mường.

Theo Tuấn Ngọc (báo Lào Cai)
Du lịch, GO!

Nửa đêm chạy xe về Vũng Tàu

Để tìm quãng nghỉ giữa những tháng ngày bộn bề, chúng tôi có chuyến hành trình đến vùng biển Vũng Tàu, ngắm bình minh thức giấc và chiều tà chênh vênh.
Lý do tôi lựa chọn Vũng Tàu để nghỉ ngơi cuối tuần, ngoài việc nơi này cách TP HCM 125 km, còn là Vũng Tàu có khí hậu rất giống mảnh đất nơi tôi sinh ra và lớn lên. Sáng ửng nắng, trưa chan chát, và chiều sớm hôm dịu ngọt.

Chuyến hành trình của tôi bắt đầu từ đêm thứ 7, rạng sáng ngày chủ nhật. Tôi thong dong cùng người bạn đồng hành di chuyển ra ngoại thành lúc 1h. Chúng tôi đi chậm trên quốc lộ 1, hướng về Đồng Nai. Đến ngã ba Vũng Tàu, chúng tôi rẽ theo hướng quốc lộ 51 để đến Vũng Tàu lúc 5h.

< Biển lúc rạng sáng.

Thành phố vẫn chìm trong bóng đêm. Chúng tôi dừng xe ở quảng trường Vũng Tàu, ngắm biển đêm. Cảm giác bình yên quá đỗi. Trên bãi biển có rất nhiều nhóm bạn đàn hát, hòa với tiếng sóng vỗ bờ. Tôi đã đến Vũng Tàu nhiều lần, nhưng chuyển đi này có lẽ đọng lại nhiều cảm xúc nhất.
Dulichgo
Màn đêm bắt đầu nhạt dần. Bầu trời chuyển mình nhẹ nhàng, như người đẹp đang bừng thức giấc. Bình minh bắt đầu dâng lên cao, mọi thứ như bừng tỉnh. Chúng tôi ngồi trên bãi cát, mọi người bắt đầu kéo xuống biển ngày một nhiều hơn. Biển dịu dàng vỗ những cơn sóng nhẹ.

< Bình minh thức giấc.

Chúng tôi ghé vào một quán bán bánh canh chả cá thơm nồng, rồi đi về phía ngọn hải đăng, vào đường Hạ Long và di chuyển lên con đường nhựa trải dài giữa rừng cây. Con đường quanh co, lúc thẳng tắp và dài hun hút, lúc lại quanh co bất chợt...

Nhìn từ ngọn hải đăng, những ngôi nhà trải dọc theo bờ biển, nhỏ nhắn như những khối mô hình lắp ghép ngộ nghĩnh. Chúng tôi dạo chơi rồi và di chuyển xuống núi để đến Bãi Sau.

< Biển sớm.

Gửi xe bên mỏm đá, chúng tôi ngắm biển rộng và chênh vênh. Lòng người như dịu lại khi đứng trước biển. Biển mênh mông và rộng lớn quá đỗi, khiến người ta như chùn xuống vì sự nhỏ bé của bản thân.
Dulichgo
Ban chiều, khi cái nắng ban chiều nhạt dần, chúng tôi vẫn đi dạo một vòng dọc bãi biển. Biển bỗng trở nên hiền hòa, con sóng không còn ồn ào vội vã như buổi sớm hôm. Mọi người cười đùa trong cái nắng đang chiếu những tia nắng cuối cùng của ngày.

< Thành phố Vũng Tàu nhìn từ ngọn hải đăng.

Đêm về, trước khi rời Vũng Tàu, chúng tôi sau khi ăn tối xong, ghé vào quán kem Alibaba mua những cây kem thơm dẻo ngọt. Chất kẹo trong kem mỗi nơi mỗi khác, nhưng ở đây khiến ta như quên đi cái lạnh, chỉ muốn ăn như những viên kẹo ngọt tan chảy.

Biển vẫn vậy, bình yên của buổi đêm như cô nàng tuổi trăng tròn dịu dàng khép mình khi màn đêm buông xuống. Hẹn Vũng Tàu một ngày nào đó không xa.

Theo Võ Minh Quốc (New Zing)
Du lịch, GO!

Lăng Bình Giang Quận công Võ Di Nguy

Khu vực gò đất cao từ Bà Chiểu tới Phú Nhuận là nơi có nhiều lăng mộ của các công thần thời Trung Hưng nhà Nguyễn, từ Tổng trấn Gia Định Lê Văn Duyệt, Phan Tấn Huỳnh, Phó Tổng trấn Trương Tấn Bửu tới các vị tướng như Võ Tánh, Võ Di Nguy; những người này tuy không sinh ra ở Gia Định nhưng sự nghiệp lại gắn liền với vùng đất này.

Võ (Vũ) Di Nguy theo sử sách nhà Nguyễn thì ông là người huyện Phú Vang (Vinh), phủ Thừa Thiên, ông có công theo Nguyễn Ánh đi Vọng Các (Băng Cốc – Thái Lan ngày nay) – được xếp vào “Bậc nhất Vọng Các công thần”, giỏi thủy chiến, từng làm Cai cơ, quản thuyền Nội Thủy, Trung Thủy, có công rất lớn trong việc xây dựng thủy quân Nguyễn Ánh trong cuộc chiến tranh với Tây Sơn ở Gia Định (1790 – 1801).

Ông mất năm 1801 trong trận đánh tại cửa biển Thị Nại, Quy Nhơn khi cùng Lê Văn Duyệt đốc chiến. Thi hài ông được đưa về Gia Định chôn cất và thờ ở đền Hiển Trung. Năm 1807 được Gia Long tặng hàm Thiếu Bảo và được thờ ở miếu Trung Hưng công thần tại Huế, đầu đời vua Minh Mạng được tặng hàm Thái Bảo, năm 1831 được vua Minh Mạng truy phong Bình Giang Quận công.

Tọa lạc tại Số 19 đường Cô Giang, Phường 2, quận Phú Nhuận ngày nay, Lăng Võ Di Nguy với kiểu kiến trúc chỉ dành cho bậc đại công thần được chia làm hai khu: khu đền thờ phía trước và khu mộ phía sau.

Mộ được đắp bằng ô dước, nhô khỏi mặt đất khoảng 0,25 m, hình chữ nhật với kích thước 2 x 1,6 m. Với kiến trúc gồm bình phong trước, bình phong sau, vòng tường bao xung quanh cùng các trụ cột là những thành phần che chắn, bảo vệ cho phần mộ ở giữa. Mộ được xây dựng có dạng hình chữ nhật vuông xung quanh khắc các đường trang trí và hình tượng “dây lá hóa rồng” đang bay lượn.
Dulichgo
Cách đầu mộ khoảng 1,8 m là bức bình phong hậu bằng ô dước hình chữ nhật, hai bên đắp phù điêu rồng chầu: đầu ôm cột có đính tòa sen, đuôi quấn chân bình phong (phong cách Angkor); ở giữa là 2 ô bài vị khắc chữ Hán: ô bên phải nói về công trạng của Võ Di Nguy, bên trái nói về thân thế phu nhân Võ Di Nguy. Tuy nhiên hầu hết chữ đã phai mờ rất khó đọc.

Khu tiền mộ (sân trước mộ) được ngăn bởi hai bờ tường, chừa cổng vào ở giữa. Đặc biệt, sinh thời Võ Di Nguy là danh tướng thủy quân (tước Bình Giang Quận công) nên trên mỗi bờ tường có tượng con rái cá.

Một hồ nước nhỏ gắn với bức bình phong cao khoảng 1,8 m hai bên có tượng hai con sư tử mắt lồi, đuôi xòe, nhe răng ôm lấy bình phong có chiều ngang 3 m. Mặt trong bình phong chạm hình “vân tùng lộc” (mây, cây tùng và hươu nai), mặt ngoài bình phong rong rêu đã phủ kín.

Đặc biệt, giữa sân phía trước mộ có tượng 2 con lân nhỏ rất đẹp, xứng đáng được liệt vào “tượng linh vật thuần Việt”, đó là chưa kể trên 2 cột trụ vuông có đặt 2 con lân lớn cũng uy mãnh và đẹp không kém... Trước mộ có bệ thờ bằng ô dước dài 1,4 m, ngang 0,6 m, cao xấp xỉ với mặt mộ. Trên bàn thờ đặt lư gốm to. Chân bệ thờ hình bàn quỳ kê trên 4 con kỳ lân ở 4 góc.
Dulichgo
Ngoài bờ tường phần mộ Võ Di Nguy còn có 4 ngôi mộ khác. Bên phải là mộ bà Lê Thị Mười (phu nhân Võ tướng công) và mộ người con trai thứ Võ Di Thiện. Bên trái là mộ người con dâu tên Triệu Thị Đào và một mộ phần vô danh. Cạnh 2 mộ này có một giếng nước cổ. Toàn bộ khu mộ được đắp nổi nhiều hình tượng và trang trí nhiều mô típ hoa văn độc đáo, sống động: búp sen, kỳ lân, rồng, hổ, rái cá; tùng lộc, lộc bình, hoa điểu, hoa cúc dây… cùng nhiều bài thơ ghi công đức của ông và phu nhân.

Đền thờ có từ khi xây cất xong khu mộ, kiến trúc hiện nay của khu đền thờ là kiến trúc được xây dựng lại trong đợt trùng tu vào năm 1972; với kiến trúc chính điện là ngôi nhà tứ trụ truyền thống Nam bộ cùng hai dãy nhà phía Đông và phía Tây hai bên. Bên trong, tại Chính điện có bàn thờ Hội đồng ở giữa, phía trong là các án thờ Võ Di Nguy và người cháu ruột là Võ Di Thái được phong tước Bình Giang Bá, riêng án thờ Võ Di Nguy có bài vị khắc chữ Thần thếp vàng. Trong chính điện còn treo các bức hoành phi, liễn đối bằng chữ Nho thể hiện công trang của Võ Di Nguy.

Ngoài những vật dụng, linh vật thường thấy trong các đình, đền Nam bộ (tượng bạch mã, cặp hạc đứng trên rùa, lọng, thập bát binh khí...), đền còn lưu giữ 2 sắc phong của vua Minh Mạng năm thứ 13 (1832) đề ngày 11 tháng giêng âm lịch và ngày 14 tháng 12 âm lịch, truy phong tước phẩm, ghi trên lụa vàng, đựng trong hộp gỗ cuộn vải đỏ được đặt trong khám thờ. Đặc biệt, vì Võ Di Nguy là tướng thủy binh nên trong các vật thờ cũng có một thuyền rồng.

Đền thờ và mộ Võ Di Nguy là một công trình kiến trúc nghệ thuật có liên quan tới nhân vật lịch sử thời chúa Nguyễn. Đây là kiến trúc lăng mộ có tính chất uy nghi, độc đáo vào bậc nhất của các công thần thời Nguyễn ở Nam bộ. Công chúng tới đây có thể nhận thấy nhiều điều thú vị về cuộc sống và xã hội của con người trong quá khứ một thời ở đất Gia Định xưa. Lăng Võ Di Nguy được Bộ Văn hóa  – Thông tin xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia theo Quyết định số 43-VH/QĐ ngày 07 tháng 01 năm 1993.

Theo Thanh Niên, sách Hành trình di sản văn hóa TP.HCM...
Du lịch, GO!

Thứ Hai, 26 tháng 10, 2015

Cao lầu khô, món quà nơi phố Hội

(TTO) - Cao lầu khô Hội An là sự hòa quyện nhiều thực phẩm khác nhau nhưng dễ nhận ra sự khác biệt bởi sợi cao lầu không giống bún lẫn phở hay hủ tiếu, khi thưởng thức lại thấy thân quen, đậm đà, đầy ý nhị.

Cách chế biến sợi cao lầu Hội An có nhiều điểm lạ nếu không muốn nói là đặc biệt. Người Quảng Nam thường ngâm gạo và xay thành nước bột, sau đó hấp chín thành những lá mì trên nồi nước sôi bằng một tấm vải. Lá mì được xắt thành sợi để ăn tạo nên món mì Quảng đặc trưng. Trong khi đó, sợi cao lầu tuy nhìn gần giống sợi mì Quảng nhưng lại được làm từ gạo ngâm với nước tro lọc kỹ, dùng vải bòng cho bột khô, dẻo, cán mỏng và xắt thành sợi rồi mới đem hấp nhiều lần cho chín. Một bên hấp chín rồi mới xắt thành sợi, một bên cán thành sợi rồi hấp chín.

Cách chế biến cao lầu mới nghe qua rất đơn giản nhưng ẩn chứa nhiều bí quyết nghề nghiệp khó mà khám phá.


< Để có sợi cao lầu khô ngon, giữ nguyên sắc vàng tự nhiên phải phơi dưới nắng vàng.
Dulichgo
Cho đến nay, người ta vẫn còn truyền tai rằng muốn sợi cao lầu ngon phải có loại tro nấu từ củi ở Cù Lao Chàm và nước làm cao lầu phải là nước lấy từ giếng Bá Lễ - một giếng nước rất nổi tiếng ở Hội An, nơi cung cấp nước uống hàng ngày cho nhiều gia đình cũng như nhiều hàng quán ăn uống.

Dù cách chế biến rất khác với cách làm mì, phở truyền thống, nhưng cùng có một điểm chung là có thể phơi khô để dành ăn dần. Riêng cao lầu đã được ngâm nước tro để khử chua nên có thể giữ được lâu hơn mà không mất chất.

Cao lầu khô thường theo chân người dân Hội An tha hương như một món quà không thể thiếu trong hành trình chuyến về thăm quê của mình. Cao lầu khô vì thế còn gói trọn tình cảm gửi bạn bè phương xa. Đặc biệt, với nhiều khách du lịch nước ngoài những sọt cao lầu khô đặt khắp ngã phố Hội An luôn gợi sự tò mò muốn tìm hiểu rồi mua vài ký về làm quà.

< Du khách nước ngoài tranh thủ ghi lại hình ảnh về món quà đặc sản cao lầu khô.
Dulichgo
Cao lầu khô phải ngâm vài giờ với nước nóng, xả qua nước để ráo mới có thể chế biến thành nhiều món. Phổ biến, lạ miệng nhất, mang hương vị riêng, không lẫn vào đâu được và cũng không giống với bất kỳ món nào là cao lầu khô trộn.

Thực phẩm dùng kèm theo để làm cao lầu trộn là tôm, thịt. Tôm phải là loại tôm đất mới bắt về, còn nhảy tưng tưng. Thịt ba rọi luộc chín, xắt nhỏ như hạt lựu. Tôm sau khi lột vỏ trộn chung với thịt và hành tím rồi băm nhuyễn, cho các loại gia vị như tiêu, bột ngọt, ít muối vào, trộn đều lên.

Bắc chảo lên bếp, đổ dầu vào phi hành tỏi cho thơm rồi trút tôm thịt vào đảo qua đảo lại vài lần cho thấm. Khi nghe mùi thơm theo làn hơi bốc lên lan tỏa cả gian, nhanh tay cho cao lầu vào, nêm xì dầu vừa ăn, trộn đều tay đến khi sợi cao lầu vừa mềm, thấm gia vị thì tắt lửa. Trước khi ăn, đợi chảo bớt nóng thêm đậu phộng rang rải lên bề mặt một ít ngò thơm và hành lá xắt nhỏ.

< Cao lầu khô trộn - món ăn hấp dẫn nhiều du khách.

Cao lầu trộn ăn với bánh tráng nướng giòn mới đúng điệu. Vị ngọt lịm của tôm thịt, hương thơm của ngò, hành, cùng âm thanh rôm rốp của bánh tráng, sần sật của sợi cao lầu, tất cả làm nên món ăn đậm đà khó quên. Bên cạnh trộn, cao lầu khô cũng có thể ăn cùng nước xốt và nhưn thịt xíu (cao lầu nước). Thường người ta trụng sợi cao lầu vào nước sôi cho mềm và ăn kèm với giá trụng, rau sống Trà Quế, thịt xíu, nước xốt và tất nhiên không thiếu tép mỡ, tương ớt...
Dulichgo
Thịt xíu ăn với cao lầu khô muốn ngon phải chọn bằng  thịt heo đùi vừa mỏng da vừa nhiều thịt, để nguyên khổ ướp xì dầu, nước mắm, ngũ vị hương, gia vị… cho thật thấm. Sau đó xíu thịt với lửa đỏ vừa phải. Khi thịt chuyển sang màu vàng ươm, bốc mùi thơm ngây ngất, vớt thịt ra chỉ để nước xíu lại. Cuối cùng khử cà chua, hành tây đã xay nhỏ với dầu, đổ hỗn hợp này cùng nước thịt xíu để làm nước xốt nhưn.

< Cao lầu khô còn có thể ăn cùng với nước xốt và nhưn thịt xíu.

Hương vị các món từ cao lầu khô Hội An là sự hòa quyện của nhiều thực phẩm khác nhau nhưng dễ nhận ra sự khác biệt nhất là sợi cao lầu trông không giống bún lẫn phở hay hủ tiếu, nhưng thực khách khi thưởng thức lại thấy thân quen trong hương vị đậm đà, đầy ý nhị.

Theo các vị cao niên ở phố cổ, cao lầu xuất hiện từ khoảng thế kỷ 17. Thời  đó, Hội An là trạm đỗ chính của các thương thuyền vùng Viễn Đông. Nhiều thương gia nước ngoài đến sinh sống, buôn bán. Sự giao thoa nền văn hóa giữa các dân tộc đã để lại những món ăn khá độc đáo trong đó có cả cao lầu. Trải qua nhiều thế kỷ, cư dân Hội An đã giữ gìn, tiếp biến có chọn lọc để cao lầu trở thành một nét rất riêng trong văn hóa ẩm thực nơi đây.

Theo Thanh Ly (Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!

Vẻ đẹp yên bình ở Hòa Vang

(DNCT) - Một buổi sáng trong cái nắng đầu thu, chúng tôi theo con tàu Tiên Sa rời bến sông Hàn ở trung tâm Đà Nẵng hướng về huyện Hòa Vang. Theo lời anh bạn địa phương, những ai muốn tìm thấy nét đẹp cổ xưa của vùng đất Quảng Đà thì không thể không tìm đến miền đất ngoại thành còn thưa vắng dấu chân du khách này.

Đến thôn Bồ Bản, nơi hai bên bờ sông có hàng tre xanh mát dày ken, cả đoàn lên bờ ghé thăm đình làng Bồ Bản rồi lại tiếp tục cuộc hành trình qua khu vực chợ cũ trên sông Túy Loan, đến đình làng Túy Loan có cây đa hơn 100 năm tuổi. Trải qua bao thăng trầm, đình cổ vẫn giữ được nét uy nghi trầm mặc. Được xây dựng lần cuối cùng vào năm 1889, đến nay đình làng còn gần như nguyên vẹn, nằm lặng lẽ dưới bóng đa cổ thụ chờ đợi mùa lễ hội.  Sân đình có xây trụ biểu, bình phong, vẽ các câu đối… rất tỉ mỉ sắc sảo.

Quanh đình, phong cảnh làng quê thật đẹp với gam màu sống động đến từ dòng sông, bến nước, bãi bờ, đồng lúa, cầu, chợ…

Xưa kia, làng Túy Loan là nơi hội tụ giữa đường thủy và đường bộ nên sớm phát triển sầm uất, nổi tiếng nhờ cảnh trên chợ dưới sông tấp nập. Chợ làng như là một trung tâm quy tụ hầu hết sản vật quanh vùng: Cá mắm từ Hội An, Đà Nẵng lên; lâm sản từ miền núi phía tây xuống; chiếu, nón, nong rổ ở Cẩm Nê về…

Nghề làm bánh tráng và mì quảng ở Túy Loan nổi tiếng từ xưa. Để có bánh tráng ngon người làm phải chế biến đủ năm thứ gia vị gồm mắm, muối, đường, tỏi và mè. Còn để có con mì ngon dẻo cần phải dùng một loại gạo đặc biệt đến từ vùng đất cát không phèn của xã Đại Hiệp, huyện Đại Lộc.
Dulichgo
Cách đình Túy Loan khoảng hai cây số theo đường sông là nhà cổ Tích Thiện Đường. Nhà được xây theo lối kiến trúc ba gian hai chái, mái lợp ngói âm dương đúng kiểu kiến trúc quen thuộc của những ngôi nhà hàng trăm năm tuổi ở làng quê xứ Quảng Đà. Để có đủ nguyên vật liệu xây nhà, chủ nhân xưa phải tìm đủ và chở gỗ mít từ Huế về ròng rã hàng mấy năm trời.

Toàn bộ bàn thờ, phản ngồi, cột nhà… đều làm từ gỗ mít, trải qua hàng trăm năm tuổi đã lên màu nâu bóng. Những nét chạm trổ tinh xảo trên thủ thờ, xà ngang, cột nhà… là dấu ấn tài hoa của những người thợ làng mộc Kim Bồng (Hội An, Quảng Nam) một thời vang tiếng. Đến đây, nhiều người sống dậy những hoài niệm về một thời mà đời sống sinh hoạt gia đình gắn với chiếc cối đá xay gạo, nồi đất, mâm đồng…
Dulichgo
Không chỉ còn nhiều đình, nhà cổ, Hòa Vang cũng được biết đến với giáo xứ Hòa Sơn, nơi có nhiều nhà thờ tuổi đời hàng thế kỷ. Giáo xứ được thành lập vào năm 1876, do các linh mục người Pháp dòng Thừa Sai xây dựng. Giáo xứ bao gồm hai xứ đạo với sáu nhà thờ, hai nhà nguyện tạo thành một quần thể kiến trúc công giáo độc đáo, trong đó lớn và lâu đời nhất là nhà thờ Phú Thượng.

Hoàn thành năm 1887, nhà thờ này toát lên vẻ cổ kính, uy nghi. Hiện nay, công trình đang được trùng tu để thay thế các cột gỗ giữa nhà thờ đã bị mối mọt làm hư hại. Đối diện nhà thờ Phú Thượng còn có một khuôn viên đẹp dành cho dòng tu kín. Cách đó không xa, nằm trên một ngọn đồi với nhiều cây cổ thụ xanh tốt tỏa bóng mát quanh năm, nhà thờ Hòa Ninh với những bức tường được lát bằng đá xanh lại khiến người ta liên tưởng đến các nhà thờ cổ tại thành phố Đà Lạt.

Những nét riêng của Hòa Vang là thế, rải rác và lặng lẽ. Điều đó khiến cho kẻ muốn chiêm ngưỡng nét đẹp xưa phải lặn lội đi tìm để rồi nhớ mãi!

Theo Doanh Nhân Cuối Tuần
Du lịch, GO!