Hiển thị các bài đăng có nhãn Thành phố tôi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thành phố tôi. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 29 tháng 11, 2015

Từ tượng Hai Bà đến tượng Trần Hưng Đạo...

(TNO) - Tượng Trần Hưng Đạo ở công trường Mê Linh là minh chứng cho sự năng động của Sài Gòn và là chốn hẹn hò của đôi lứa ở bến Bạch Đằng nhìn ra sông Sài Gòn đầy thơ mộng.

< Tượng Trần Hưng Đạo trở thành nơi chứng minh cho sự năng động, phát triển của Sài Gòn.

Tượng Trần Hưng Đạo nằm ở công trường Mê Linh, quận 1. Thời Pháp thuộc, công trường này được đặt theo tên Đô đốc thủy quân người Pháp và từng là Thống đốc Nam Kỳ, Rigault de Genouilly. Ban đầu tượng của vị đô đốc thủy quân cũng được đặt nơi đây.

Thay thế tượng Hai Bà

< Ban đầu nơi đây đặt tượng đô đốc người Pháp Rigault de Genouilly.

Năm 1955, ngày lễ Hai Bà Trưng được công nhận là ngày lễ chính thức ở miền Nam. Tháng 3.1962, chính phủ Ngô Đình Điệm khánh thành tượng Hai Bà Trưng ở công trường Mê Linh để vinh danh Hai Bà. Người dân Sài Gòn lúc đó vẫn quen gọi là tượng Hai Bà. Tượng do kiến trúc sư Ngô Viết Thụ vẽ và điêu khắc Nguyễn Văn Thế thực hiện.

Tượng Hai Bà Trưng được dựng trên một bệ cao ba chân, phía trước là đầu và vòi voi, tiếp nữa là hai chân voi. Tượng được giới điêu khắc đánh giá rất đẹp, nét điêu khắc đặc sắc và mới mẻ. Khi khánh thành tượng này, bà Trần Lê Xuân - phu nhân của cố vấn Ngô Đình Nhu - với tư cách là chủ tịch của Hội Phụ nữ liên đới tới cắt băng khánh thành.

< Năm 1962, tượng Hai Bà Trưng được đặt ở đây.
Dulichgo
Tuy nhiên, do cách điêu khắc quá mới mẻ nên sau khi khánh thành, nhiều người dân Sài Gòn thấy tượng Hai Bà có nét phảng phất giống mẹ con bà Trần Lê Xuân. Nên sau khi chính quyền Ngô Đình Diệm sụp đổ, một số người đã tập trung ở công trường giật đổ tượng Hai Bà như muốn xóa bỏ “dấu tích” của phu nhân cố vấn tổng thống. Nhiều người chứng kiến vụ giật đổ kể đầu hai pho tượng sau đó được bỏ lên xích lô đem đi diễu hành khắp phố, rồi không biết thất lạc nơi đâu. Từ năm 1963 đến 1967, bệ voi vẫn nằm ở công trường nhưng không có tượng nào được trưng trên đó.

Sau này, có một thời gian công trường Mê Linh được giao cho hải quân nên được đổi thành công trường Bạch Đằng. Đây vừa là quân cảng vừa là bến sông tiếp nhận tàu bè từ cảng Sài Gòn. Chuyện dựng tượng Trần Hưng Đạo cũng có nhiều câu chuyện thú vị xoay quanh. Bởi ít người biết rằng bức tượng Trần Hưng Đạo nổi tiếng ở Sài Gòn suốt gần 50 năm qua lại là tác phẩm đầu tay của Phạm Thông - một chàng trai mới vừa tốt nghiệp Đại học Mỹ thuật Sài Gòn.

< Tượng Trần Hưng Đạo trước năm 1975.
Dulichgo
Sau này, kể với báo chí, nhà điêu khắc Phạm Thông cho biết năm 1967, khi ông mới 24 tuổi, binh chủng hải quân của Việt Nam Cộng hòa kết hợp với Hội Đức Thánh Trần tổ chức cuộc thi tạc tượng Trần Hưng Đạo để đặt ở vị trí công trường Mê Linh thay cho tượng Hai Bà Trưng bị phá hủy trước đó. Ban đầu đồ án của ông là tượng ngồi nghiên cứu binh thư yếu lược. Nhưng khi bắt tay vào thiết kế, ý tưởng Hưng Đạo Đại Vương đứng trên cao chỉ xuống sông Sài Gòn ở vị trí bến Bạch Đằng như bây giờ thuyết phục được Phạm Thông. Cuộc thi đó có 13 đồ án tham dự và cuối cùng điêu khắc gia Phạm Thông thắng giải.

Sài Gòn năng động và thơ mộng

Bức tượng Hưng Đạo Đại Vương cao gần 6 m, đứng trên một bục lăng trụ tam giác cao gần 10 m. Trụ tam giác này tận dụng vị trí kiềng ba chân đã đặt tượng Hai Bà Trưng trước đó. Mẫu tượng do Phạm Thông thiết kế là vị Đại tướng trong y phục võ tướng, một tay tì lên đốc kiếm, một tay chỉ xuống sông và nói: “Phen này nếu ta không phá xong giặc Nguyên, thề không bao giờ trở lại khúc sông này nữa”. Chính hình ảnh oai hung và tinh thần chống giặc xâm lăng mà Phạm Thông đưa ra đã thuyết phục ban tổ chức dù rằng cuộc thi đó nhiều điêu khắc gia nổi tiếng và hơn tài ông tham dự.

< Tượng Trần Hưng Đạo hiện nay. Nơi đây minh chứng cho sự phát triển của Sài Gòn khi rất nhiều cao ốc được xây dựng.

Trong hồi ức của mình, nhà văn Phan Lạc Tiếp cho biết ngay cả điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu - người nổi tiếng với tượng Tiếc Thương - cũng tham dự cuộc thi tạc tượng Trần Hưng Đạo. Ý tưởng của điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu là một mẫu tượng Đại tướng trong tư thế ngồi, tay trái đè lên đốc kiếm tay phải cầm cuốn sách, được coi như binh thư. Đại tướng quân hướng mắt về phương bắc, vừa là biểu tượng của người đi biển hướng về sao Bắc đẩu, vừa là nỗi lo âu muôn đời của người Việt về giữ yên bờ cõi biên cương biển trời. Rất tiếc mẫu thiết kế này không được chọn khiến điêu khắc gia nổi tiếng này rất buồn.

< Đây còn là nơi có nhiều du khách nước ngoài đến tham quan.

Phạm Thông kể lại những người chủ trì việc dựng tượng yêu cầu ông làm việc rất nghiêm túc. Thay vì thời gian thực hiện đồ án chỉ vài tháng cuối cùng kéo dài tới gần 1 năm. Ngày khánh thành tượng, 5 giờ sáng, ông còn phải trèo lên tượng đục đẽo, sửa chữa cho tượng đạt yêu cầu.
Dulichgo
Niềm hạnh phúc của điêu khắc gia Phạm Thông là sau này có hai phiên bản tượng Trần Hưng Đạo được đúc để gắn ở Quy Nhơn, Vũng Tàu. Sau năm 1975, nhà điêu khắc Phạm Thông sang Mỹ định cư.

Còn về tượng Trần Hưng Đạo ở Sài Gòn sau khi hoàn thành nhanh chóng được người dân đón nhận. Công trường Mê Linh những năm về sau không chỉ nổi tiếng khi đây chính là minh chứng cho sự năng động của Sài Gòn khi các tòa nhà cao tầng đua nhau chen chúc mà còn là chốn hẹn hò của đôi lứa ở bến Bạch Đằng nhìn ra sông Sài Gòn đầy thơ mộng.

Theo Trung Hiếu (Báo Thanh Niên)
Du lịch, GO!

Thứ Năm, 26 tháng 11, 2015

Lãng mạn một chiều lau Nam Đàn

Đến Nam Đàn, Nghệ An, du khách thường chỉ ghé thăm quê Bác mà không biết rằng ven đê Tả Lam (tả ngạn sông Lam) cũng có khung cảnh thơ mộng và yên bình rất đáng thưởng thức.

< Vào mùa lau, cảnh sắc nơi này thật sự như thiên đường.

Xã Nam Cường, huyện Nam Đàn, Nghệ An gần đây mới “nổi” lên nhờ khung cảnh hoang sơ và lãng mạn của bãi lau rộng lớn ven sông. Bãi đất này người dân thường chăn bò, không khai khẩn trồng hoa màu nên lau lách được thể mọc thành từng mảng lớn rất um tùm, rậm rạp. Nhiều đôi uyên ương và các bạn trẻ yêu thích chụp ảnh đã dành cả ngày lang thang ngoài bãi không biết chán.

< Lau mọc thành bờ bụi, trắng tinh khôi rập rờn theo gió.

Theo người dân ở đây, lau mọc đẹp nhất là vào khoảng tháng 10 cho tới tháng 11. Các mảng lau mọc tự nhiên cao hơn đầu người, chẳng cần chăm bẵm, màu trắng muốt, tụ thành từng đám như mây trôi thơ mộng.
Dulichgo
Tuy vậy, do không phải là khu vực dành cho du lịch nên bến bãi không có, khách đến đây thường tự bảo quản xe cộ hoặc gửi nhờ người dân. Có đoàn còn phóng hẳn xe ra tận bãi. Đường đi không khó nhưng nhiều cát, tay lái yếu sẽ dễ trơn trượt ngã.

< Nơi đây trở thành điểm chụp ảnh yêu thích của nhiều bạn trẻ.

Từ thành phố Vinh, có nhiều con đường để các nhóm bạn tới bãi lau này chiêm ngưỡng và chụp ảnh. Nếu không rành đường trong thành phố, đi qua cầu vượt Cửa Nam thẳng theo QL46 khoảng 6km, tới ngã tư đi Bến Thủy rẽ trái theo QL1A khoảng 2km sẽ gặp một ngã ba khác.

< Lau trong ánh hoàng hôn có một vẻ đẹp hết sức hoang sơ.

Đến đây rẽ phải theo đường đi Hưng Tân (ĐT 542C), đi hết đường tới ngã ba đê 42 (xóm 3, xã Hưng Xá) lại rẽ trái, đi theo đê Tả Lam (ĐT 542) tới cầu Yên Xuân. Cầu này là cầu đường sắt, hai bên có đường bộ cho xe đạp, xe máy qua, ôtô không thể đi được. Đi qua cầu sẽ đến xóm 3, xã Nam Cường, huyện Nam Đàn. Bãi lau nằm phía tay phải, rất dễ nhận biết bởi chúng tạo thành một vùng bông trắng rộng lớn trải dài khoảng 20km đường.

< Bãi lau rộng lớn ven sông Lam ở xóm 3, xã Nam Cường, Nam Đàn, Nghệ An.
Dulichgo
Còn một đường khác ngắn hơn là từ phố Phạm Hồng Thái, TP Vinh đi thẳng cho tới khi gặp chiếc cầu nhỏ mang tên Bàu Lác. Đi qua cầu rẽ phải vào đường Đ.H 2.2 tới hết đường thì rẽ phải là tới cầu Yên Xuân. Đường này chỉ khoảng 15km, tuy nhiên đông đúc xe cộ hơn quãng đường trên.

< Chụp ảnh cưới bên bờ cỏ lau.

Vào chơi ở bãi lau, các nhóm có thể mang theo chút đồ ăn và vải bạt để ăn nhẹ nếu thích. Không khí trong lành, cảnh vật hoang sơ và các bãi cỏ rộng là nơi lý tưởng cho một chuyến dã ngoại trong ngày. Tuy nhiên, lưu ý bãi rộng và không hề có biển chỉ đường nên rất dễ lạc. Luôn nhớ hướng mặt trời hoặc đi trong vùng nhỏ để tránh việc kẹt lại bãi lau khi trời tối.

Bên cạnh bãi lau hoang sơ, Nam Cường còn mang vẻ đẹp rất bình dị của vùng nông thôn Việt Nam. Dọc theo con đê, sông Lam uốn lượn qua các bãi bồi. Rất dễ bắt gặp một con thuyền thả lưới nhỏ của người dân sống quanh đó hoặc một ruộng ngô mướt mát màu mỡ.

Người dân cho biết trước kia nước sông ở đây xanh trong lắm. Từ ngày các đơn vị khai thác cát dưới lòng sông, màu nước chuyển đục dần. Những bãi sậy, bãi táo, dâu một số nơi ven sông dần thế chỗ cho những cần cẩu, máy xúc, xe tải… qua lại nhộn nhịp. Con sông dù vậy vẫn luôn là niềm tự hào của người dân xứ Nghệ với tên tuổi đội bóng Sông Lam Nghệ An nổi tiếng.

< Bãi lau và hồ nước nhỏ nối liền với sông trong ánh hoàng hôn vàng úa.

Vào tháng 10, 11 mùa thu, nếu nán lại sau những giờ chụp ảnh thỏa thích ngoài bãi lau tới tầm 17g, bạn sẽ có cơ hội chiêm ngưỡng thứ ánh sáng của ngày tàn bắt đầu vàng úa, phủ lên bãi lau một màu phấn vàng lộng lẫy tuyệt đẹp.
Dulichgo
Đây cũng là khoảnh khắc thử thách các tay máy thích chụp ngược sáng, chụp ven hay hoàng hôn. Đứng từ phía cầu Yên Xuân nhìn về phía tây sẽ thấy ráng chiều như một bức tranh hùng vĩ với các đường vân sáng rõ rệt chạy trên nền trời thu xanh thẳm.

< Đàn trâu bò hàng chục con thong thả gặm cỏ ven đê.

Lúc này nếu chạy xe máy dọc đê Tả Lam sang xã Hưng Long, huyện Nam Đàn, bạn có thể chiêm ngưỡng vẻ thanh bình, yên ả của vùng quê nơi đây. Những bãi cỏ xanh mướt rộng tít tắp, hàng chục con trâu, con bò thong thả và no nê gặm cỏ. Chủ yếu làm nông nghiệp nên trâu bò vẫn là “đầu cơ nghiệp” tại vùng quê nhỏ bé này.

< Cuộc sống thanh bình diễn ra ngay trên con đê Tả Lam.

Đi dọc đường tỉnh 542 rất dễ bắt gặp một đám trẻ con lững thững đạp xe hay một chị nông dân chăn trâu, đám thanh niên túm lại thành từng đám ngồi trên đê hóng mát và buôn chuyện… Cuộc sống bình yên và rất đỗi dịu dàng diễn ra ngay trên bờ đê dài hàng chục cây số.

Không ồn ào phố thị, không khuất lấp bởi những tòa nhà chọc trời, hoàng hôn nơi đây nguyên sơ và lấp lánh sau những rặng tre, trên dòng nước mát, dường như gột hết bao bụi bặm mỏi mệt của một ngày dài vất vả…

Theo Phong Linh (Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!

Thứ Ba, 24 tháng 11, 2015

Mênh mang Đồng Nghệ - Đồng Xanh (Đà Nẵng)

Cách trung tâm TP.Đà Nẵng khoảng 25km về phía tây, hồ Đồng Xanh – Đồng Nghệ (Hòa Khương, Hòa Vang) trở thành điểm đến lý tưởng cho các hoạt động dã ngoại sinh thái, nghỉ dưỡng của các bạn trẻ vào những dịp cuối tuần.

Hồ Đồng Xanh – Đồng Nghệ là một công trình thủy lợi được xây dựng hoàn thành vào năm 1995 với diện tích mặt nước rộng 2,4km2, nhằm mục đích phục vụ tưới tiêu cho các vùng phụ cận. Từ trên cao nhìn xuống, lòng hồ như một bức tranh thủy mạc trải dài lấp lánh dưới ánh mặt trời. Ấn tượng đầu tiên trong mắt du khách khi tới nơi đây chính là con đập ngăn nước cao vững chãi được che phủ bởi lớp cỏ xanh tựa như tấm thảm dài mịn màng, còn vây quanh lòng hồ là những đồi cây xanh tốt nối nhau dường như bất tận.

Con đập ngăn nước có chiều dài 645m, chiều rộng đỉnh đập 6m, chiều cao là 25 m. Trên bờ đập được phủ một lớp cỏ xanh rì làm hài hòa thêm cảnh sắc ở xung quanh. Bên kia là hồ nước màu xanh thẳm rộng mênh mông tạo cho ta cảm giác thấy mình thật là nhỏ bé so với thiên nhiên rộng lớn.
Dulichgo
Công trình thủy lợi Đồng Nghệ được hoàn thành vào năm 1995, đáp ứng nhu cầu tưới tiêu, hạn chế lũ lụt hằng năm của các xã lân cận. Bao quanh lòng hồ là núi non, suối thơ mộng những rừng cây tươi tốt với màu xanh bất tận in bóng lung linh dưới mặt hồ, tương phản trên nền nước phẳng lặng.

Mất khoảng hơn 20 phút đi trên thuyền, bạn sẽ đến được thượng nguồn của hồ. Tại đây, ta đi thăm các trang trại, chăn nuôi gia súc, trồng rừng.

Cắm trại ở đây thì không gì bằng, không gian thoáng đãng, yên tĩnh, mát mẻ, nghe đâu đó tiếng chim hót, tiếng suối chảy róc rách từ các khe núi vọng ra nơi mà ta khó có thể tìm được ở chỗ đô thị xô bồ.

Những ngày cuối tuần nắng đẹp, dễ dàng bắt gặp khá nhiều du khách và các bạn trẻ rủ nhau về đây cắm trại, sinh hoạt dã ngoại với các hoạt động như câu cá dưới những phiến đa ven bờ; chèo thuyền khám phá lòng hồ hoặc đi về phía thượng nguồn nơi cảnh quan hấp dẫn với những suối đá nước trong veo, thăm thú các trang trại gia súc, gia cầm và thưởng thức đặc sản trái rừng như trâm, sim, dủ dẻ… giữa một không gian thoáng đãng, yên tĩnh, mát mẻ đến lạ thường.
Dulichgo
Tuy vậy, cảnh vật quanh hồ chỉ đẹp nhất vào buổi chiều tà cũng là lúc thời gian như lắng đọng trong tiếng vi vu của gió và tiếng chim rừng gọi bầy bâng khuâng ở chốn non nước hữu tình.

Đặc biệt, hồ Đồng Xanh – Đồng Nghệ còn là địa chỉ thú vị cho những ai đam mê chèo thuyền kayak vì mặt hồ thoáng rộng và luôn lặng sóng.

Du khách sẽ không phải ngạc nhiên khi đến đây nếu bắt gặp hàng chục bạn trẻ nô đùa, chèo thuyền kayak luồn lách đuổi nhau qua những lòng hồ khe núi. Ngoài ra, nơi đây cũng là địa điểm duy nhất ở miền Trung được đội tuyển Rowing Đà Nẵng và Trung tâm Thể dục quốc gia III  chọn làm nơi luyện tập cho các vận động viên nhằm chuẩn bị cho các giải đấu lớn.

Khám phá Đồng Xanh - Đồng Nghệ không chỉ mang đến cho du khách những cảm nhận mới lạ về cảnh vật, non nước mây trời mà còn giúp đưa con người đến gần hơn với thiên nhiên, lánh xa nhưng ồn ào phố thị để cảm nhận được sự phóng khoáng, tự do giữa đất trời. Và, điều quan trọng nhất là hồ Đồng Xanh – Đồng Nghệ không quá xa thành phố và rất dễ dàng thuận lợi để đến nơi.

Theo Báo Quảng Nam, Danagon.com
Du lịch, GO!

Thứ Hai, 16 tháng 11, 2015

Hà Nội chiều quê

Dòng Hồng Hà (hay gọi là sông Hồng) muôn đời vẫn thế, lúc thì cuồn cuộn, khi lại lặng lẽ chảy giữa mảnh đất Hà Nội ngàn năm văn hiến.

Bên này sông với các quận nội thành Đống Đa, Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng... là nơi ồn ào, tấp nập, là miền "đất hứa" của bao người. Bên kia sông vẫn giữ được chút hồn quê với bụi chuối, bãi cỏ, đàn trâu... để cho những ai thèm nhớ quê tìm về, hay người Hà Nội gốc tới trải nghiệm, thư giãn.

Thời còn sinh viên, cứ mỗi khi bắt chuyến tàu tối từ vùng Kinh Bắc ra Hà Nội là một lần tôi chẳng thể nào quên sự hồi hộp khi qua cầu Long Biên trên dòng sông Hồng.

Ở bên kia dòng sông, theo hướng con tàu tiến tới là những tòa cao ốc với ánh đèn, dòng người, tiếng còi xe... Dường như nơi ấy với tôi mới thực sự là thủ đô, là thành phố. Còn ở bên này dòng Hồng Hà với những bờ lau san sát, bãi bồi trải dài cát vàng và con đường ven đê trở vào với những Ngọc Thụy, Cự Khối, Bát Tràng... vẫn chỉ là một Hà Nội làng quê. Cả một vùng đất Long Biên, Gia Lâm ấy tuy tốc độ đô thị hóa nhanh để nhằm đạt tới mục đích "Thành phố đôi bờ sông Hồng", nhưng những gì của hồn làng, hồn quê vẫn còn in đậm.
Dulichgo
Ngày xưa, xa quê lên chốn đô thành, mỗi khi nhớ nhà tôi lại rủ bạn đạp xe từ quận Thanh Xuân đi qua một Hà Nội đông đúc để ra cầu Long Biên rồi sang bên kia dòng Hồng Hà. Lúc đó chưa có cầu Vĩnh Tuy và Thanh Trì nên muốn đi từ nội thành sang mạn Long Biên, Gia Lâm, bọn tôi phải đạp xe qua cây cầu sắt cũ kỹ Long Biên hoặc cầu Chương Dương.

Sang bên kia sông là để những chàng trai trẻ chưa quen với phố phường thoát khỏi cái ngột ngạt, đồng thời cũng để tìm về một hồn quê, hồn làng đồng điệu với quê mình, cho vơi đi nỗi nhớ nhà.

Chúng tôi thích thú với không gian thoáng đãng mênh mông của trời rộng sông dài nên đã khóa xe đạp vào thành cầu Long Biên để lội bộ xuống bãi bồi với bụi chuối, nương ngô, bờ lau, rồi nghịch cát, gập thuyền giấy cho trôi theo dòng nước, như thể những kẻ mười tám đôi mươi thực sự được trở về quê hương, trở về tuổi thơ.

Rồi thời gian thấm thoắt thoi đưa, bạn học mỗi đứa với gánh nặng cơm áo gạo tiền. Tôi cũng vùi mình vào vòng xoáy ấy, dù vẫn đi đi về về qua dòng Hồng Hà, nhưng chẳng bao giờ dừng lại ngắm cảnh hay tạt xuống ven đê, bãi bồi như ngày xưa nữa.

Hơn một thập kỷ nhìn lại, ai đó đã gắn bó với mảnh đất này thấy Hà Nội phát triển nhanh quá. Thế là gã đàn ông (không còn là chàng sinh viên hồn nhiên khi xưa) chợt nhớ ra, rồi vội vã tìm về để xem cái hồn quê ngày xưa ấy còn vương vãi chút nào bên khúc sông vẫn đục ngầu mùa lũ, cạn nước vào những tháng Hè...

Có người bảo Hà Nội nói chung và sông Hồng nói riêng đẹp nhất khi vào Thu. Có lẽ vì thế, nên một buổi chiều đầu Thu nắng nhạt, chẳng hẹn hò ai, lặng lẽ mình tôi tìm về một khúc Hồng Hà.

Xe lăn bánh thật chậm qua cầu Vĩnh Tuy như vô thức, để rồi chợt nhận ra dòng sông Hồng mùa này đúng là đẹp thật. Nước sông trong xanh, phẳng lặng bên bãi cát trắng trải dài miên man. Vài đôi tình nhân xuất hiện từ bao giờ, âu yếm sánh bước bên nhau.

Khi xuống tới ven đê, chợt thấy một đàn trâu hàng trăm con to nhỏ, con thì nhởn nhơ gặm cỏ, con thì lao mình xuống dòng Hồng Hà tắm mát. Còn chàng mục đồng sau khi lùa được đàn trâu tới đúng chỗ ưng ý, lặng lẽ ngồi ngắm dòng nước bình lặng trôi. Nhìn thấy hình ảnh ấy, tôi lại rạo rực nhớ tới quê, tới làng mình.

Từ gầm cầu Vĩnh Tuy men theo một đoạn đê nữa, tôi bắt gặp một vườn nhãn cổ thụ được quây thép gai để làm chuồng nhốt trâu. Qua người dân gần đó tôi mới biết đàn trâu và khu vườn nhãn cổ thụ ở đây chính là điểm chụp ảnh cưới, ảnh dã ngoại của dân thủ đô bên kia sông.

Chiều về trên bãi cỏ, cồn cát, những đôi tình nhân tìm đến càng đông. Những cô gái đủ mốt thời trang tung tăng bên các chàng, lúc thì cười đùa vang trời, khi lại nũng nịu đòi người yêu chụp ảnh. Có nhiều đôi còn thuê một kíp thợ chụp ảnh chuyên nghiệp ghi lại bộ mang hồn quê làm kỷ niệm quãng thời gian yêu nhau.

Những chàng trai, cô gái ấy có thể như bọn tôi ngày xưa, ra đây cho vơi đi nỗi nhớ hoặc đơn thuần chỉ là để thoát khỏi cái ngột ngạt của còi xe, phố phường chật chội. Nhưng dù lý do gì thì các bạn trẻ ấy vẫn may mắn tìm được một chút hồn quê như chúng tôi hơn 10 năm trước - thứ mà tưởng đã vĩnh viễn mất.
Dulichgo
Chiều ấy, tôi gặp một đôi vợ chồng trẻ và cô con gái. Bé tên Mai Anh, nhà ở Đống Đa, rất thích thú khi tận mắt nhìn thấy con thuyền, đàn trâu, vườn nhãn, bụi chuối. Bé cứ liên tục hỏi mẹ về cái này, cái kia. Rồi mỗi lần gặp cái hay, cái lạ, bé lại giục bố bấm máy ảnh để về khoe với bạn bè trên facebook.

Có lẽ sống trong những tòa nhà bốn bề bê tông cốt thép và quanh năm ngập đầu với sách vở, những đứa trẻ đã bị biến thành "gà công nghiệp". Vậy nên có được một chuyến dã ngoại, thăm thú đây đó như gia đình bé Mai Anh thật là thú vị và mỗi chuyến đi như thế chắc sẽ góp phần giữ gìn tuổi thơ hồn nhiên trong những đứa trẻ sinh ra ở phố thị.

Cảnh sắc nhuốm màu đồng quê ngay gần những tòa cao ốc cho người ta chút gì đó thư thái, bình yên. Không chỉ bé gái thích chụp ảnh với trâu, với cỏ cây mà nhiều cô dâu váy trắng muốt, nhiều chàng rể trong những bộ comple sang trọng cũng ngã nghiêng tạo dáng để có bộ ảnh cưới với phông nền thôn dã.

Chiều dần ngả bóng, trên bãi cỏ bao la, những chàng trai với thú đua xe mô hình xuất hiện. Họ bảo ở phố làm gì có chỗ chơi được trò này nên cứ phải ra ven sông cho thoáng đãng.

Bạn, tôi, hay chúng ta cứ thử ngắm và ngẫm xem, chỉ cần một chiếc thuyền nhỏ với cụ già đội nón lá thong thả buông lưới dưới chân cầu Vĩnh Tuy là cái hồn quê, cái sự bình dị của cuộc sống đã hiện hữu...

Theo Hải Dương (Doanh Nhân Sàigòn)
Du lịch, GO!

Thứ Ba, 10 tháng 11, 2015

Đường hoa Tết TP HCM dời về phố đi bộ

Sau một năm dời qua đường Hàm Nghi, Tết Bính Thân 2016 đường hoa TP HCM sẽ được tổ chức lại ở quảng trường đi bộ Nguyễn Huệ với quy mô lớn hơn, dài ngày hơn.

< Đường hoa Tết Ất Mùi 2015 của TP HCM tổ chức ở đường Hàm Nghi.

Theo quyết định của lãnh đạo UBND TP HCM tại cuộc họp ngày 10/11, đường hoa Tết Bính Thân 2016 sẽ được tổ chức trở lại trên suốt phố đi bộ Nguyễn Huệ, từ Quảng trường Hồ Chí Minh trước trụ sở UBND TP đến đoạn giao với đường Tôn Đức Thắng.

Với chủ đề "TP HCM - hòa bình, hội nhập và phát triển", đường hoa Nguyễn Huệ sẽ mở cửa sớm hơn một ngày so với trước, từ ngày 27 tháng Chạp cho đến ngày mùng 5 Tết, tức kéo dài 8 ngày (trước đây là 7 ngày) để đáp ứng nhu cầu tham quan của người dân thành phố cũng như du khách trong và ngoài nước.

Cũng nằm trong chuỗi sự kiện tết Bính Thân 2016, đường sách sẽ được tổ chức ở khu vực Ngô Đức Kế, Đồng Khởi và Mạc Thị Bưởi. Trong đó, hai cổng ở đường Ngô Đức Kế và Mạc Thị Bưởi sẽ nối với đường hoa. Ngoài ra, sẽ có hơn 10 tuyến đường được trang trí ánh sáng đèn (từ Tết Dương lịch đến Tết Nguyên đán).
Dulichgo
Đường hoa Nguyễn Huệ được tổ chức lần đầu tiên vào Tết Giáp Thân 2004. Đến nay, sự kiện này bước sang tuổi thứ 12 (từ Tết Tân Mão 2011 có thêm đường sách), đã trở thành nét văn hóa của Tết Sài Gòn và là hoạt động không thể thiếu đối với người dân TP HCM mỗi dịp xuân về.

Mỗi năm, đường hoa mang một chủ đề khác nhau, thu hút hàng triệu người dân và du khách tham quan, chụp ảnh trong những ngày Tết. Tết Ất Mùi 2015, do đường Nguyễn Huệ đang xây dựng phố đi bộ và ga ngầm metro nên đường hoa được dời về đại lộ Hàm Nghi.

Theo Trung Sơn (Vbexpress)
Du lịch, GO!

Chủ Nhật, 8 tháng 11, 2015

Tục ăn trầu của người Hà Nội

Người Hà Nội vốn nổi tiếng sành ăn, sành mặc. Hà Nội là nơi chắt lọc những tinh hoa, nét đẹp của mọi miền để tạo nên nét đẹp cho riêng mình. Nét đẹp của Hà Nội thể hiện ngay cả trong tục dùng trầu - một phong tục mà theo truyền thuyết có từ thời Hùng Vương dựng nước (qua sự tích Trầu Cau mà người Việt Nam hầu như ai cũng biết).

Người Hà Nội xưa, phổ biến từ 13 tuổi trở lên là biết ăn trầu. Theo sứ giả nhà Nguyên vào đời Trần, ở Thăng Long, 61 phố phường đều trồng rất nhiều cau và trầu không. Người Hà Nội trước đây có câu:
"Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu,
Mua cau Nam Phố, mua trầu chợ Dinh".

Chợ Cầu, chợ Quán là các chợ lẻ, chợ phụ dọc đường, Nam Phố là tên cũ của phố Hàng Bè bây giờ, nơi xưa bán rất nhiều cau tươi, cau khô. Chợ Dinh gần dinh quan phủ Phụng Thiên (quãng phố Phủ Doãn và Ngõ Huyện bây giờ). Ngày nay, người Hà Nội ít ăn trầu hơn trước nên không còn những phố bán trầu mà tập trung phần lớn ở những chợ một số ít được đem bán rong.

Người Hà Nội rất công phu trong cách chọn trầu. Cau ngon phải là cau bánh tẻ, không già, không non, vừa tới hạt (nửa màu, nửa hạt). Người sành ăn thường kén mua cau Đông ở tỉnh Hải Hưng (cũ). Từ tháng 8 có thêm cau miền Nam nhưng người ta ít ăn vì loại cau này nhiều hạt không ngon. Mua trầu phải chọn lá hơi ánh vàng, nhỏ, dày, tươi.
Dulichgo
Ngày trước có trầu không làng Chả ngon nổi tiếng vì lá nhỏ, vừa thơm vừa cay, để có được lá trầu như vậy người làng Chả ngày đó trồng trầu cũng rất công phu, dàn trầu không phải được trồng trên đất trồng gừng. Ngày nay người Hà Nội ăn trầu Hưng Yên, vào dịp lễ hỏi người ta mua trầu Tây Sơn vì lá to đẹp. Người sành ăn trầu chọn vôi xứ Đoài - Sơn Tây.

Bộ đồ ăn trầu của người Hà Nội gồm có: cơi đựng trầu bằng đồng hoặc quả trầu sơn khảm xà cừ, ống vôi chạm bạc, ống nhổ bằng đồng thau đựng quết trầu. Những cụ già ăn trầu còn có thêm cối giã trầu bằng đồng chạm trổ khá tinh vi chỉ bỏ vừa miếng trầu, miếng cau, vỏ để giã. Dao bổ cau phải sắc để bổ cau cho đẹp và hạt không bị vỡ.

Cũng chỉ là "Quả cau nho nhỏ, lá trầu xanh" nhưng cách ăn trầu của người Hà Nội rất duyên dáng, họ ăn trầu không những làm đỏ môi, răng đen mà còn tạo nét môi cắn chỉ rất đẹp, Người ta không cho cả cau, trầu và rễ vào cùng một lúc mà ăn từng thứ một. Cau được nhai dập mới cho trầu vào và sau cùng là rễ quệt thêm một ít vôi, khi ăn người ta thường lấy tay quệt ngang miệng, lâu dần tạo thành nét môi cắn chỉ.

Người xưa ăn trầu còn là để bảo vệ hàm răng của mình, chất chát của trầu cau làm cho lợi răng co lại ôm sát lấy chân răng, làm hàm răng cứng chặt lại không lung lay. Còn trong y học cổ truyền người Việt Nam xưa đã dùng trầu cau như một thứ thuốc chống bệnh sốt rét rừng một khi vào rừng sâu săn bắn hoặc xuống biển mò ngọc trai, săn bắt đồi mồi...
Dulichgo
Người Hà Nội nói riêng và người Việt Nam nói chung xưa kia coi việc têm trầu là một nghệ thuật. Qua cử chỉ têm trầu, ăn trầu để phán đoán phong cách, tính nết cũng như nếp sống của con người. Chính vì lẽ đó, khi đi xem mặt nàng dâu tương lai, nhà trai đòi bằng được cô gái ra têm trầu, trước là để xem mặt cô dâu, sau là để xem cử chỉ têm trầu của cô gái mà phán đoán tính nết. Miếng trầu têm vụng về là người không khéo tay; miếng trầu nhỏ miếng cau to là người không biết tính toán làm ăn; miếng trầu quệt nhiều vôi là người hoang phí không biết lo xa...

Ngày nay, ở Hà Nội hầu như chỉ những người trên 60 tuổi mới ăn trầu cho nên Hà Nội không còn cảnh mời trầu như A.de Rovodes - một người Pháp nói về việc ăn trầu của người Thăng Long thế kỷ XII: "Họ có tục đem theo một vài túi con đầy trầu cau đeo ở thắt lưng, họ để mở trong khi qua lại phố phường để mời bạn bè. Khi gặp họ bắt đầu chào hỏi nhau, rồi mỗi người lấy ở trong túi của bạn một miếng trầu để ăn". Tuy nhiên, quan niệm "miếng trầu là đầu câu chuyện" của người Hà Nội nói riêng và người ViệtNam nói chung vẫn được áp dụng ở những dịp hiếu, hỉ. Ngày Rằm, mồng Một hoặc các ngày lễ Tết hoặc trong những dịp lễ ăn hỏi, cưới xin của các gia đình Việt Nam vẫn không thể thiếu miếng trầu quả cau trên bàn thờ tổ tiên.

Trầu cau chỉ là một thứ nhai chơi, tuy đơn sơ nhưng lại có nhiều ý nghĩa trên lĩnh vực y học, tâm lý xã hội... dùng trầu cau còn là một truyền thống văn hoá của dân tộc. Ngày nay, không mấy ai ăn trầu nhưng nét đẹp đó vẫn được gìn giữ và áp dụng trong cuộc sống của người dân.

Theo Thanglong.cinet
Du lịch, GO!

Thứ Tư, 4 tháng 11, 2015

Đá cầu "phủi" - nét tài hoa người Hà Nội

(DVO) - Mỗi độ chiều chiều sau giờ tan làm, nếu có dịp ghé thăm Hồ Hoàn Kiếm và khu tượng đài Lý Thái Tổ, không khó để bạn có thể bắt gặp hình ảnh người Hà Nội đang say mê chơi đá cầu "phủi", môn thể thao tài hoa mà đầy tinh tế như tính cách ngàn đời người dân Thủ đô...

Bạn cũng có thể bắt gặp hình ảnh chơi đá cầu "phủi" ở nhiều nơi khác nữa, từ trường học đến ngoài công viên, vườn hoa. Thậm chí chỉ cần một khoảng không gian nho nhỏ là trái cầu có thể bay lên thoả mãn niềm đam mê của mọi người trong đó.

< Kỹ thuật vít cầu trong đá cầu lưới "phủi".

Đá cầu có mặt ở Hà Nội từ khá lâu và cũng là môn thể thao rất quen thuộc với mọi người. Chỉ cần một quả cầu, giầy với dép cũng ko thành vấn đề, là mọi người từ già trẻ lớn bé đều có thể tham gia.

< Động tác "quét" vôi cầu, người chơi sẽ phải dùng lực từ cổ chân hoặc đùi để "nhấn" trái cầu xuống.
Dulichgo
Những năm gần đây với sự lên ngôi của các bộ môn hút khán giả như đá bóng, bóng chuyền, quần vợt... ít nhiều đã khiến người dân Thủ đô quên mất bộ môn đá cầu truyền thống. Dù không thể phủ nhận đây là một trong những "mỏ vàng" của thể thao nước nhà ở các kỳ đại hội thể thao quốc tế, khi liên tục 8 năm liền đá cầu Việt Nam đều giành vô địch thế giới. Thật may mắn là vẫn còn một bộ phận nhỏ người Hà Nội vẫn duy trì tinh hoa đó, qua những sân chơi đá cầu "phủi" đường phố, góp phần giữ gìn và ươm mầm những tài năng trẻ tương lai.

< Đá cầu phủi ngày nay không hề thiếu bóng dáng của phái đẹp, những cô gái tưởng như chân yếu tay mềm, nhưng sở hữu từng đường cầu mềm mại mà đầy dũng mãnh.

Cầu "phủi" là những quả cầu chinh được tạo từ miếng chì đập bẹp, hoặc đồng xu, và theo thời gian ngày nay đã có thêm đế cầu làm từ nhựa, cao su bắt mắt. Người dân Thủ đô vẫn không thể nào quên được khoảng thời gian làm mưa làm gió của đá cầu cuối những năm 80 đầu 90 ở thế kỷ trước. Khi đó khắp nơi từ vườn hoa Hàng Trống (sân "Ba Lát" xưa), góc sân phố Tràng Thi, Văn Miếu - Quốc Tử Giám, sân làng Đông Xã (Bưởi),... chiều chiều luôn kín khán giả theo dõi các "cao thủ" đá cầu Hà thành biểu diễn.

Theo thời gian dù còn nhiều khó khăn trong việc duy trì, những người nặng lòng với đá cầu Thủ đô đã tìm lại được nhau sau bao năm bị gánh nặng cuộc sống chi phối, đem đam mê của mình hình thành lên những câu lạc bộ "phủi" sinh hoạt đều đặn hàng ngày.

Có thể kể đến những cái tên câu lạc bộ Chí Linh, Ninh Hiệp, Thiền Quang, Tuổi trẻ... đều đặn sinh hoạt hàng ngày mỗi buổi tan làm, không phân biệt tuổi tác, giới tính, đẳng cấp. Người chơi có thể là những lão tướng tên gọi liệt vào hàng huyền thoại đá cầu đá chung sân, chung "chiến tuyến" với lũ nhóc xì tin đáng tuổi cháu chắt 9x.
Dulichgo
Cũng đơn giản thôi, chỉ cần 1 khoảng không gian ngoài trời cộng thêm bộ lưới là chúng ta có thể chiêm ngưỡng từng đường cầu của các "cao thủ" đất Hà thành. Những thuật ngữ còn khá xa lạ với người ngoại đạo như vít, santo, quét đã dần dần được phổ cập cùng với  tốc độ phát triển của phong trào cầu lưới phủi.

Không còn là chơi đá cầu dạo thể dục giãn gân cốt đơn giản nữa. Thay vào đó là những trận chiến căng thẳng đủ khiến khán giả dán mắt vào từng đường cầu. Và phần thưởng cho người chiến thắng cũng khiến cả làng cùng vui vẻ, đôi khi chỉ là chầu trá đá, điếu thuốc hay viên kẹo lạc nho nhỏ...

Và cũng chỉ cần thế thôi, khi những gì tinh hoa, những gì là hiếm, vẫn luôn được người Hà Nội xưa và nay lưu giữ, dù bằng cách này hay cách khác...

Theo Chí Nam (Dân Việt)
Du lịch, GO!

Thứ Ba, 27 tháng 10, 2015

Lăng Bình Giang Quận công Võ Di Nguy

Khu vực gò đất cao từ Bà Chiểu tới Phú Nhuận là nơi có nhiều lăng mộ của các công thần thời Trung Hưng nhà Nguyễn, từ Tổng trấn Gia Định Lê Văn Duyệt, Phan Tấn Huỳnh, Phó Tổng trấn Trương Tấn Bửu tới các vị tướng như Võ Tánh, Võ Di Nguy; những người này tuy không sinh ra ở Gia Định nhưng sự nghiệp lại gắn liền với vùng đất này.

Võ (Vũ) Di Nguy theo sử sách nhà Nguyễn thì ông là người huyện Phú Vang (Vinh), phủ Thừa Thiên, ông có công theo Nguyễn Ánh đi Vọng Các (Băng Cốc – Thái Lan ngày nay) – được xếp vào “Bậc nhất Vọng Các công thần”, giỏi thủy chiến, từng làm Cai cơ, quản thuyền Nội Thủy, Trung Thủy, có công rất lớn trong việc xây dựng thủy quân Nguyễn Ánh trong cuộc chiến tranh với Tây Sơn ở Gia Định (1790 – 1801).

Ông mất năm 1801 trong trận đánh tại cửa biển Thị Nại, Quy Nhơn khi cùng Lê Văn Duyệt đốc chiến. Thi hài ông được đưa về Gia Định chôn cất và thờ ở đền Hiển Trung. Năm 1807 được Gia Long tặng hàm Thiếu Bảo và được thờ ở miếu Trung Hưng công thần tại Huế, đầu đời vua Minh Mạng được tặng hàm Thái Bảo, năm 1831 được vua Minh Mạng truy phong Bình Giang Quận công.

Tọa lạc tại Số 19 đường Cô Giang, Phường 2, quận Phú Nhuận ngày nay, Lăng Võ Di Nguy với kiểu kiến trúc chỉ dành cho bậc đại công thần được chia làm hai khu: khu đền thờ phía trước và khu mộ phía sau.

Mộ được đắp bằng ô dước, nhô khỏi mặt đất khoảng 0,25 m, hình chữ nhật với kích thước 2 x 1,6 m. Với kiến trúc gồm bình phong trước, bình phong sau, vòng tường bao xung quanh cùng các trụ cột là những thành phần che chắn, bảo vệ cho phần mộ ở giữa. Mộ được xây dựng có dạng hình chữ nhật vuông xung quanh khắc các đường trang trí và hình tượng “dây lá hóa rồng” đang bay lượn.
Dulichgo
Cách đầu mộ khoảng 1,8 m là bức bình phong hậu bằng ô dước hình chữ nhật, hai bên đắp phù điêu rồng chầu: đầu ôm cột có đính tòa sen, đuôi quấn chân bình phong (phong cách Angkor); ở giữa là 2 ô bài vị khắc chữ Hán: ô bên phải nói về công trạng của Võ Di Nguy, bên trái nói về thân thế phu nhân Võ Di Nguy. Tuy nhiên hầu hết chữ đã phai mờ rất khó đọc.

Khu tiền mộ (sân trước mộ) được ngăn bởi hai bờ tường, chừa cổng vào ở giữa. Đặc biệt, sinh thời Võ Di Nguy là danh tướng thủy quân (tước Bình Giang Quận công) nên trên mỗi bờ tường có tượng con rái cá.

Một hồ nước nhỏ gắn với bức bình phong cao khoảng 1,8 m hai bên có tượng hai con sư tử mắt lồi, đuôi xòe, nhe răng ôm lấy bình phong có chiều ngang 3 m. Mặt trong bình phong chạm hình “vân tùng lộc” (mây, cây tùng và hươu nai), mặt ngoài bình phong rong rêu đã phủ kín.

Đặc biệt, giữa sân phía trước mộ có tượng 2 con lân nhỏ rất đẹp, xứng đáng được liệt vào “tượng linh vật thuần Việt”, đó là chưa kể trên 2 cột trụ vuông có đặt 2 con lân lớn cũng uy mãnh và đẹp không kém... Trước mộ có bệ thờ bằng ô dước dài 1,4 m, ngang 0,6 m, cao xấp xỉ với mặt mộ. Trên bàn thờ đặt lư gốm to. Chân bệ thờ hình bàn quỳ kê trên 4 con kỳ lân ở 4 góc.
Dulichgo
Ngoài bờ tường phần mộ Võ Di Nguy còn có 4 ngôi mộ khác. Bên phải là mộ bà Lê Thị Mười (phu nhân Võ tướng công) và mộ người con trai thứ Võ Di Thiện. Bên trái là mộ người con dâu tên Triệu Thị Đào và một mộ phần vô danh. Cạnh 2 mộ này có một giếng nước cổ. Toàn bộ khu mộ được đắp nổi nhiều hình tượng và trang trí nhiều mô típ hoa văn độc đáo, sống động: búp sen, kỳ lân, rồng, hổ, rái cá; tùng lộc, lộc bình, hoa điểu, hoa cúc dây… cùng nhiều bài thơ ghi công đức của ông và phu nhân.

Đền thờ có từ khi xây cất xong khu mộ, kiến trúc hiện nay của khu đền thờ là kiến trúc được xây dựng lại trong đợt trùng tu vào năm 1972; với kiến trúc chính điện là ngôi nhà tứ trụ truyền thống Nam bộ cùng hai dãy nhà phía Đông và phía Tây hai bên. Bên trong, tại Chính điện có bàn thờ Hội đồng ở giữa, phía trong là các án thờ Võ Di Nguy và người cháu ruột là Võ Di Thái được phong tước Bình Giang Bá, riêng án thờ Võ Di Nguy có bài vị khắc chữ Thần thếp vàng. Trong chính điện còn treo các bức hoành phi, liễn đối bằng chữ Nho thể hiện công trang của Võ Di Nguy.

Ngoài những vật dụng, linh vật thường thấy trong các đình, đền Nam bộ (tượng bạch mã, cặp hạc đứng trên rùa, lọng, thập bát binh khí...), đền còn lưu giữ 2 sắc phong của vua Minh Mạng năm thứ 13 (1832) đề ngày 11 tháng giêng âm lịch và ngày 14 tháng 12 âm lịch, truy phong tước phẩm, ghi trên lụa vàng, đựng trong hộp gỗ cuộn vải đỏ được đặt trong khám thờ. Đặc biệt, vì Võ Di Nguy là tướng thủy binh nên trong các vật thờ cũng có một thuyền rồng.

Đền thờ và mộ Võ Di Nguy là một công trình kiến trúc nghệ thuật có liên quan tới nhân vật lịch sử thời chúa Nguyễn. Đây là kiến trúc lăng mộ có tính chất uy nghi, độc đáo vào bậc nhất của các công thần thời Nguyễn ở Nam bộ. Công chúng tới đây có thể nhận thấy nhiều điều thú vị về cuộc sống và xã hội của con người trong quá khứ một thời ở đất Gia Định xưa. Lăng Võ Di Nguy được Bộ Văn hóa  – Thông tin xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia theo Quyết định số 43-VH/QĐ ngày 07 tháng 01 năm 1993.

Theo Thanh Niên, sách Hành trình di sản văn hóa TP.HCM...
Du lịch, GO!