Hiển thị các bài đăng có nhãn Thắng cảnh tâm linh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thắng cảnh tâm linh. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 29 tháng 11, 2015

Di tích Lăng Tứ Kiệt

Tứ Kiệt là cách gọi tôn kính của nhân dân đối với bốn vị anh hùng lãnh đạo nhân dân chống Pháp từ năm 1868 – 1870. Ðó là các ông: Trần Công Thận, Nguyễn Thanh Long, Ngô Tấn Ðước và Trương Văn Rộng.

Tứ Kiệt chống Tây

Thời kỳ khẩn hoang và những năm thế kỷ XVIII, XIX, đầu thế kỷ XX, Đồng bằng sông Cửu Long về địa lý được phân chia thành hai khu vực: miệt Tiền Giang và miệt Hậu Giang. Các tỉnh thuộc miệt Tiền Giang gồm có Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre, Tiền Giang, Long An ngày nay. Các tỉnh thuộc miệt Hậu Giang nằm dọc bờ hữu ngạn sông Hậu đến giáp biển Tây (vịnh Thái Lan) gồm các tỉnh, thành phố: Cần Thơ, An Giang, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang.

Sau khi Pháp chính thức nổ súng xâm lược nước ta năm 1858, phong trào chống Pháp nổi lên mạnh mẽ khắp nơi và những cuộc khởi nghĩa chống Pháp đầu tiên ở Nam bộ phần lớn diễn ra trên vùng đất Tiền Giang, như: khởi nghĩa Trương Định (Gò Công), Thủ Khoa Huân (Mỹ Tho), Võ Duy Dương (Đồng Tháp Mười)… về sau lan qua miệt Hậu Giang với Nguyễn Trung Trực (Kiên Giang), Trần Văn Thành (An Giang), Đỗ Thừa Luông, Đỗ Thừa Tự (Cà Mau), Đinh Sâm (Cần Thơ)…
Dulichgo
Ở huyện Cai Lậy thuộc tỉnh Định Tường năm 1861 có "Tứ Kiệt" nổi lên khởi nghĩa đánh Tây quyết liệt và dũng cảm. Đó là những anh hùng nông dân chân đất đầu trần, xuất thân từ các đồn điền. Theo tiểu sử được ghi ở bia ký Lăng Tứ Kiệt, bốn ông gồm:

- Trần Công Thận:(? - 1871) tự là Phượng, người ở xóm Võng, làng Mỹ Trang, nay thuộc ấp Mỹ Phú, xã Long Khánh, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang. Ông là người chỉ huy, tổ chức cuộc nổi dậy, nên nhân dân gọi tôn là Ngươn soái Thận.
- Nguyễn Thanh Long: (1820 - 1871) còn gọi là Đề Long, người ở ấp Cẩm Hòa, xã Cẩm Sơn, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang. Ông là người tham mưu, đề ra các kế sách cho nghĩa quân.
- Ngô Tấn Đước: (? - 1871) người ở xã Tân Hội, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
- Trương Văn Rộng: (? - 1871) người ở xã Tân Lý Đông, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.

"Tứ Kiệt", theo cách gọi dân gian là "Bốn Ông Cai Lậy", tham gia cuộc khởi nghĩa do Thiên Hộ Võ Duy Dương khởi xướng và lãnh đạo ở vùng Cai Lậy, Cái Bè, Thuộc Nhiêu, Đồng Tháp Mười… góp phần tạo nên những chiến thắng oai hùng. Trong những chiến công của nghĩa quân Tứ Kiệt, có hai trận đánh được xem là oanh liệt, tiêu biểu nhất. Đó là cuộc tấn công vào thành Mỹ Tho và trận thiêu hủy đồn Cai Lậy.

Do đã từng kinh qua chiến trận và rất có kinh nghiệm với lối đánh du kích, nên dù vũ trang thô sơ, Bốn Ông đã chủ động tấn công quân Pháp, làm cho chúng chịu nhiều tổn thất. Khuya 1-5-1868, nghĩa quân bí mật đột kích vào thành Mỹ Tho đốt kho lương, giết được một số tên giặc. Đêm Giáng sinh 24-12-1870 nghĩa quân tấn công, thiêu hủy đồn Cai Lậy và dinh Tham biện. Hai chiến thắng này giúp tiếng tăm nghĩa quân Tứ Kiệt ngày càng lừng lẫy, chiêu mộ thêm nhiều nghĩa sĩ, liên tiếp lập nhiều chiến công ở Mỹ Quí, Cái Bè và Thuộc Nhiêu…
Dulichgo
Cuộc khởi nghĩa của Tứ Kiệt về sau đành chịu thất bại trước sự bao vây và đàn áp dã man của quân xâm lược Pháp. Trong một trận càn quét quy mô có sự tham gia của Tổng Đốc Trần Bá Lộc, Tổng Đốc Đỗ Hữu Phương - những tên tay sai cực kỳ gian ác và xảo quyệt, Tứ Kiệt cùng 150 nghĩa quân bị bắt.

Ngày 14-02-1871 (nhằm ngày 25 tháng Chạp năm Canh Ngọ), giặc đưa Tứ Kiệt ra pháp trường hành quyết, bêu đầu ở chợ Cai Lậy nhằm uy hiếp tinh thần của dân chúng, sau đó vùi dập ở bến sông cạnh chợ. Thân nhân gia đình chỉ mang thân mình các ông về quê nhà, gắn chiếc đầu giả làm bằng đất sét vào chôn cất.

Lăng Tứ Kiệt ngày nay

Kính phục, cảm kích trước sự hy sinh oanh liệt vì đất nước của bốn vị anh hùng, nhân dân Cai Lậy đã bí mật mang thủ cấp của bốn ông an táng và đắp mộ, hương khói trang nghiêm. Ban đầu, ngôi mộ bằng đất, xung quanh có hàng rào bằng cau sơn vôi trắng. Đến năm 1954, nhân dân Cai Lậy xây dựng lại ngôi miếu và bốn ngôi mộ tượng trưng bằng xi măng song song, gần sát nhau, xung quanh có hàng rào sắt kiên cố ngay trên mảnh đất cũ. Khu vực này gọi là lăng Tứ Kiệt. Năm 1967, nhân dân Cai Lậy tiến hành trùng tu ngôi miếu và khu mộ qui mô hơn, trong có miếu thờ ngoài có nhà khách. Huyền thoại về Bốn ông được lan truyền khắp Tiền Giang và các vùng phụ cận.

Lăng Tứ Kiệt hiện nay gồm hai phần:

Nhà tưởng niệm rộng hơn 100 mét vuông với 2 lớp mái cong chạm rồng. Bên trong nổi bật là 4 hàng cột đỡ mái với 16 cây cột chạm rồng tinh vi. Nhà tưởng niệm bày biện trang nghiêm với bàn thờ Tứ Kiệt anh linh, lư hương, bằng công nhận di tích lịch sử văn hóa... Hai bên, ngoài hai giá binh khí xưa còn có cặp hạc cưỡi qui bằng gỗ, chạm tinh xảo.
Dulichgo
Nhà lăng phía sau chỉ có một lớp mái cong chạm rồng. Bên trong là 4 cây cột đỡ mái chạm rồng. Bốn ngôi mộ đều được dán bằng đá granite màu gạch tôm sẫm.

Tại Lăng Tứ Kiệt, hàng năm vào ngày 25 tháng Chạp âm lịch, nhân dân Cai Lậy tụ tập đông đúc tảo mộ và làm giỗ trang trọng, thành kính tưởng nhớ đến Tứ Kiệt vì nước quên mình, vì dân giết giặc, nêu tấm gương dũng liệt sáng ngời cho hậu thế. Năm 1998, Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Tiền Giang kết hợp với Ủy ban nhân dân huyện Cai Lậy trùng tu toàn diện khu lăng mộ Tứ Kiệt, tương xứng với tầm vóc và khí phách anh hùng của bốn ông đúng như hai câu đối được chạm khắc tại cổng:

Tứ vị anh hùng vị quốc hy sinh vĩnh niệm,
Kiệt nhân nghĩa cử tinh thần bất khuất lưu tồn.

Lăng Tứ Kiệt ở Cai Lậy (Tiền Giang) được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia theo Quyết định 61 QĐ/BT ngày 13-9-1999.

Đến với Lăng Tứ Kiệt ở Cai Lậy, hiện tọa lạc tại đường 30-4, thị trấn Cai Lậy, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang, nhân dân và khách tham quan sẽ cảm nhận được hào khí anh hùng, dấu xưa oanh liệt của những anh hùng nông dân bất khuất của đất Tiền Giang nói riêng, của Nam bộ nói chung trong cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp xâm lược vào những năm giữa, cận cuối thế kỷ XIX.

Theo Anh Việt (Báo Cần Thơ)
Du lịch, GO!

Thứ Bảy, 28 tháng 11, 2015

Bình yên nhà thờ 100 năm tuổi ở Đà Nẵng

(iHay) - Những khoảng không gian rợp bóng cây xanh, nóc nhà thờ bình dị vút cao giữa trời xanh mây trắng, nhà thờ Giáo xứ An Ngãi hiện diện giữa thanh bình sớm mai…

< Nhà thờ giáo xứ An Ngãi.

Nằm cách trung tâm TP.Đà Nẵng khoảng 20 km về phía Tây (đường lên khu du lịch sinh thái Bà Nà), nhà thờ Hòa Sơn, hay chính xác phải gọi là nhà thờ giáo xứ An Ngãi là một điểm đếm thú vị, dành cho những người thích lang thang khám phá.

Theo sách sử thì An Ngãi ngày xưa còn được gọi là Bàu Nghè, là phần đất vốn có người Chăm sinh sống. Đến giữa TK15, vua Lê Thánh Tông mở cõi về phương Nam, lập Thừa Tuyên Đạo Quảng Nam. Triều đình nhà Lê bắt đầu đưa dân xứ Thanh- Nghệ- Tĩnh vào khai hoang, lập ấp.
Dulichgo
Ngôi nhà thờ với đường nét kiến trúc cổ, tinh tế, gợi một nét thu hút rất riêng. Cửa sổ, mái vòm giản dị, không cầu kì, tạo cảm giác gần gũi, an bình.

Khám phá nhà thờ giáo xứ An Ngãi Hòa Sơn là khám phá khung cảnh nên thơ, hữu tình với không gian rợp bóng cây xanh.

Cũng chính bởi không gian này thanh tĩnh, nên bất cứ ai đã đặt chân đến nơi này đều ít nhất một lần cảm nhận tâm hồn mình lắng lại, dịu êm rồi thanh thản đến lạ…

Bóng cây đa cổ thụ trải rộng, ôm gọn hang đá cầu nguyện, và dang cánh tay chở che cho những tâm hồn đang chênh chao tìm về an trú.
Dulichgo
Dù nhà thờ mới được xây dựng vào năm 1916 (đầu TK20), nhưng theo bà con giáo dân thì giáo xứ An Ngãi chính thức được hình thành từ đầu TK17. Vì vậy, đây được xem là một trong những giáo xứ hình thành khá sớm ở Đà Nẵng nói riêng, trên dải đất ven biển miền Trung nói chung.

Theo An Quân (iHay.Thanhnien)
Du lịch, GO!

Đình Quán Giá: nơi lưu dấu lịch sử dựng nước

(VHVN) - Đình Quán Giá có từ thời Lý, trong thờ Lý Phục Man, một đại tướng của Lý Nam Đế. Đình được xếp hạng Di tích lịch sử văn hoá quốc gia năm 1994. Đình nằm ở thôn Yên Sở, xã Yên Sở, huyện Hoài Đức, TP Hà Nội, cách Hồ Gươm hơn 23km về hướng tây.

Nếu lên xe bus số 20, 29, 70, 73 và xuống bến Thạch Thảo Lisa trên quốc lộ QL32 (Hà Nội—Sơn Tây) rồi đi tiếp gần 6km về phía nam thì đến nơi. Nếu lên bus 20, 29, 70, 73 (Mỹ Đình—Hòa Lạc) và xuống bến Song Phương hoặc Chợ Gồ trên đại lộ Thăng Long rồi đi theo đê sông Đáy 4km về phía bắc thì cũng thế.

- Lược sử

Đình Quán Giá ở thôn Yên Sở, xưa gọi Cổ Sở, tên Nôm là làng Giá Lụa, gọi tắt làng Giá. Tương truyền, đình được xây dựng lần đầu tiên vào thời Lý Thái Tổ (1010-1026). Đình vốn là đền thờ Lý Phục Man, người làng Giá, một trong các vị tướng tài có công giúp Lý Bí [1] làm nên cuộc khởi nghĩa ngày 10 tháng 3 năm Nhâm Tuất (542). Ngài cũng từng đánh thắng giặc Lâm Ấp, được Lý Nam Đế gả con gái và ban cho tên Lý Phục Man.
Dulichgo
Khi quân Lương quay lại xâm lược, Lý Phục Man đã anh dũng hy sinh trong trận đánh quyết liệt tại thành Tô Lịch năm Giáp Tý (544). Thi hài của Ngài được quàn tại gần hồ Mã, xã Yên Sở, nhân dân vẫn gọi là khu Mả Thánh. Trải qua nhiều năm tháng, cây cối mọc lên um tùm thành một khu rừng gọi là rừng Cấm. Về sau, nhân dân làng Giá đã lập miếu thờ để tưởng nhớ công lao to lớn của Ngài.

Tại vùng thượng nguồn sông Đáy có tới hàng chục làng thờ vọng Lý Phục Man: Bình Phú, Phượng Cách (Quốc Oai), Liên Hiệp (Phúc Thọ), Đại Thần, Mậu Hòa, Dương Liễu, Quế Dương, Tiền Lệ, Phương Bảng (Hoài Đức); xa hơn thì có làng Giàn (phường Xuân Đỉnh, quận Bắc Từ Liêm) v.v..

Năm 1947, đình Quán Giá bị quân Pháp đốt phá, chỉ còn cổng nghi môn, tam quan nội, hai bức tường và hậu cung. Dân làng sau đó đã trùng tu, tôn tạo đình. Ngày 4-4-1994, ngôi đình đã được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa quốc gia.

Gần đây có thuyết nói Lý Phục Man chính là Phạm Tu, một tướng tài khác cũng có mặt từ buổi đầu khởi nghĩa Lý Bí. Việc này cũng khó xét bởi chính sử như “Đại Việt sử ký toàn thư” chỉ viết về Phạm Tu, còn dã sử như "Việt điện u linh" và "Lĩnh Nam trích quái" lại chỉ nói đến Lý Phục Man.

- Kiến trúc

Trải qua 17 lần trùng tu và tôn tạo, đình Quán Giá đã trở nên một địa chỉ văn hóa tâm linh và du lịch với cảnh quan đẹp có tiếng. Những cây xanh trồng từ xưa đã tạo thành khu rừng Giá (tức rừng Cấm) bao quanh các công trình và làm nền cho các sinh hoạt lễ hội càng thêm nổi bật màu sắc rực rỡ.
Dulichgo
Ngôi đình hiện nay mang phong cách nghệ thuật kiến trúc thời Nguyễn, phần chính bao gồm ba tòa nhà: đại đình, trung đình và thượng điện, nằm trong khuôn viên khá lớn. Từ cổng nghi môn du khách đi qua sân trước đến một tam quan hoành tráng. Hai bên sân trong là nhà tả, hữu mạc rất dài, mỗi dãy nhà ngang đó chia thành 11 gian dành cho những nhóm người dự hội. Nhà ngang cũng là nơi để các bậc chức sắc, cao niên trong xã gặp nhau bàn bạc vào dịp diễn ra các lễ hội hoặc sự kiện lớn.

- Tham quan

Đình Quán Giá có hai bức tường với những viên gạch nung trang trí rất lạ. Tường phía đông có 23 viên, tường phía tây có 26 viên. Mỗi viên gạch có đường chỉ viền xung quanh hình vuông, giữa là phù điêu mỏng, không hình nào giống hình nào. Đó là các bức tranh sống động thể hiện cảnh lão nông dong trâu cày ruộng, cô gái tắm ở ao sen, quan quân cưỡi voi cưỡi ngựa, tiều phu gánh củi, hai người đánh cờ, ngư phủ chèo thuyền đánh cá, mấy chú bé chăn trâu đùa nghịch v.v…

Thật hiếm thấy ở đâu có nhiều câu đối như ở đây: hơn 90 câu đã được khắc ở Quán Giá và ghi lại trong các quyển sách về Lý Phục Man.

Bên trong hậu cung có tượng Lý Phục Man đặt giữa tượng hai bà Phương Dung và Ả Nương cùng bốn pho tượng các thị nữ, hộ sĩ đứng hầu. Đặc biệt còn lưu giữ được 5 tấm bia đá mang niên đại các năm 1620, 1671, 1681, 1728, 1803 và một số tài liệu cổ như thần phả, hương ước, phản ánh lịch sử của vùng đất này. Đối xứng với nhà bia, ở phía đông là nhà để con ngựa bằng đồng hun, được đúc năm Vĩnh Thịnh thứ 3 (1707), ngày nay được sơn trắng.

Lễ hội hằng năm được nhân dân vùng Giá (gồm 3 xã Yên Sở, Đắc Sở và Tiền Yên) cùng tổ chức vào ngày mồng 10 tháng 3 âm lịch. Hai đám rước của Yên Sở và Đắc Sở cùng tiến đến đình làng bên kia rồi mới quay về làng mình. Ngoài ra cứ 5 năm lại một lần mở hội theo nghi thức đại đám. Trong dân gian từ lâu đã lưu truyền thành ngữ "Bơi Đăm, rước Giá, hội Thầy".
Dulichgo
Đặc biệt hội Giá có một di sản văn hoá phi vật thể là tích “nghiềm quân”, diễn tả sự gắn kết của quân dân với tướng công Lý Phục Man. Trước thập niên 1980, thường chỉ vài ba trăm người diễn tích này. Đến nay, dân số Yên Sở đông lên thành khoảng một vạn nhân khẩu và trong hội Giá năm 2010 đã có tới gần 600 thanh thiếu niên và các cụ già tham gia đội hình nghiêm quân rước kiệu.

- Di tích lân cận

Chùa Nhổn: phố Tu Hoàng, phường Xuân Phương 1, quận Nam Từ Liêm.
Chùa Thầy: làng Thầy, xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai.
Đình So: làng So, xã Cộng Hòa, huyện Quốc Oai.

Chú thích:

[1] Lý Bí (503–548) đã đuổi quan quân của thứ sử Giao Châu là Vũ lâm hầu Tiêu Tư ra khỏi bờ cõi, xưng Lý Nam Đế và dựng nên Vạn Xuân, nhà nước độc lập đầu tiên của dân tộc ta. Phủ Hoài Đức cũ có nhiều đền thờ Lý Bí và những người gắn bó với ông như Triệu Túc, Phạm Tu, Lý Phật Tử... Có cuốn ngọc phả ghi hồi nhỏ Lý Bí tu tại chùa Hương Ấp (tỉnh Thái Nguyên bây giờ), đến năm 13 tuổi thì theo Phổ Tổ thiền sư về Sơn Tây tu ở chùa Giang Xá, rất gần làng Yên Sở.

Theo Văn Hiến VN
Du lịch, GO!

Thứ Năm, 26 tháng 11, 2015

Chùa một cột ở Đà Lạt

Mỗi khi nhắc đến chùa một cột, mọi người đều nghĩ đến ngôi chùa nổi tiếng ở thủ đô Hà Nội. Nhưng ngay tại thành phố Đà Lạt cũng có ngôi chùa một cột mô phỏng theo hình dáng của ngôi chùa nổi tiếng ấy mà rất ít người biết đến.

< Chùa một cột nằm lấp ló sau những hàng trúc.

Nằm cách TP Đà Lạt khoảng 24 km, thời gian đi xe máy từ khu trung tâm TP đến đây mất khoảng 30 phút, hướng về phía Tây Nam. Con đường ngắn nhất khi đến ngôi chùa là đường ĐT 725 và tên gọi khác là đèo Tà Nung.

Theo giới thiệu và chỉ dẫn của một người bạn đang làm việc tại Tà Nung, từ xã Xuân Trường đi đến xã Tà Nung cũng tầm khoảng 60km, tôi cưỡi chiếc xe cà tàng, chẳng có gì phải hối hả cả, tôi cứ “rà rà” mà đi, tranh thủ “ngắm nghía” kiếm cái gì đó lạ lạ để còn mần cái tin chụp cái ảnh hay kiếm tư liệu viết bài dọc cung đường được mệnh danh “đường phượt của Tây ba lô” ở Đà Lạt.
Dulichgo
Gần xuống hết đèo Tà Nung, phía bên tay phải là ngôi chùa Vạn Đức, phần mái chùa lấp ló sau những hàng trúc, hàng cây nhấp nhô theo những khúc cua hay ổ gà trên đèo. Đến nơi, trước mắt tôi là một bãi đất pha cát, vài chiếc xe tải của người dân đang đậu nhờ phía trong, tôi cứ ngó hoài vẫn chưa tìm thấy ngôi chùa như lời giới thiệu của người bạn.

< Hoa văn phía ngoài và cầu thang lên chùa.

Nổ máy xe chạy tiếp lên con dốc “lài lài” cạnh đó chừng 30 mét nữa, phía tay trái dường như có cái gì đó cứ “ẩn hiện” trong hàng trúc già lão, làm tôi thêm tò mò. Chạy thêm tí nữa để nhìn kỹ, thì ra là ngôi chùa một cột mà mình cần tìm.

Dạo một vòng xem sao! Giữa xung quanh những hàng trúc già là những cây bông sứ. Ngôi chùa khoác trên mình một màu cam kèm theo chút hồng đậm của cầu thang dẫn lên chùa. Ngôi chùa tọa lạc giữa hồ nước có cá, bèo..., cũng gần giống với chùa Một Cột tại Hà Nội.

Ngôi chùa dường như có gì rất lạ lẫm với nhiều người dân Đà Lạt, trong đó có tôi. Tôi tìm đến Sư thầy để tìm hiểu rõ hơn về ngôi chùa.
Dulichgo
Thầy Thích Vạn Chí, trụ trì ngôi chùa Vạn Đức kể: “Ngôi chùa được thành lập tháng 12/1994 trên tổng diện tích khoảng 1ha. Hiện nay đây là ngôi chùa duy nhất tại xã Tà Nung. Từ xưa, thầy thích Chùa Một Cột lắm! Năm 2002, thầy ra Hà Nội rồi từ đó mới bắt đầu có ý tưởng và tìm hiểu, đến tháng 2/2005 thì bắt đầu xây dựng, kinh phí chỉ hết khoảng 100 triệu đồng. Với ý nghĩ ít có ai, đặc biệt là bà con ở vùng sâu, có dịp ra Hà Nội, nên thầy xây dựng chùa mô phỏng theo để cho nhiều người địa phương và người dân Đà Lạt chiêm ngưỡng.

< Ngôi chùa Một Cột trong khuôn viên chùa Vạn Đức nhìn từ xa.

Thầy Chí cũng cho biết thêm, bên trong chùa thờ “Phật bà Quan Âm” giống như Chùa Một Cột ngoài Hà Nội.

Chùa Một Cột này được xây bằng bê tông, cốt thép, có chiều cao trục là 3m, phần mái là 2,5m, có hồ nước trồng hoa súng, bèo và thả hơn 200 con cá chép. Qua một thời gian đầu tư tôn tạo cảnh quan đến nay ngôi chùa có không gian khá đẹp với nhiều loài hoa và cây cối bao quanh. Là điểm tham quan khá lý tưởng.

Vị trí chùa tại đây >

Theo Trần Khương (Báo Lâm Đồng)
Du lịch, GO!

Thứ Tư, 25 tháng 11, 2015

Chùa Tổ linh thiêng ở Kinh Bắc

(TTO) - Không chỉ nổi tiếng là điểm hành hương của các phật tử, chùa Tổ (Phúc Nghiêm Tự) ởthôn Mãn Xá, xã Hà Mãn, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh còn được biết với những huyền tích linh thiêng nơi Trung tâm Phật giáo nước Việt xưa.

< Cổng chính vào chùa Tổ chỉ mở trong những ngày lễ hoặc mùng 1 và rằm.

Chúng tôi đến thăm chùa cận ngày rằm nhưng vẫn cảm nhận không khí ảm đạm, tĩnh mịch. Sân chùa thơm mùi thị và tiếng xào xạc quét lá của người trông chùa. Nhưng ấn tượng nhất vẫn là những câu chuyện mang màu sắc huyền thoại về ngôi chùa gần như bị “bỏ quên” ở vùng đất Phật giáo lâu đời nhất tại Việt Nam.

“Chùa mẹ-chùa con”

< Sân trước điện chính chùa Tổ.

Nằm bên bờ sông Lục, chùa Tổ được xây dựng từ thế kỉ 2 sau công nguyên và được tu sửa lại hoành tráng vào năm 1313 với 50 gian. Hỏi bác trông chùa tại sao lại có tên như vậy, bác bảo vì đây là nơi thờ nàng Man Nương, tổ mẫu của phật giáo hệ thống tứ pháp.
Dulichgo
Tương truyền rằng, Man Nương sinh hạ được một bé gái, sau đó nhà sư Khâu Đà La - vị tổ của đạo Phật đến vùng Luy Lâu thuyết đạo - đã đưa hài đồng đến gần một cây dâu. Chẳng may tán cây xòe rộng, đứa trẻ biến mất vào đó. Mấy năm sau, mưa bão làm đổ cây rồi thân cây theo dòng sông trôi về Luy Lâu. Người dân mơ thấy điềm báo, liền lấy thân cây đúc thành 4 bức tượng, tương ứng với 4 vị thần linh Tứ Pháp: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện. 4 bà được coi là 4 người con gái của Man Nương.

< Tượng phật mẫu Man Nương trong chùa Tổ với dáng khoan thái, tay bắt vô úy ấn.

Về sau, cứ vài năm mở một lễ lớn, người dân lại rước tượng từ các chùa thờ bà Pháp Lôi, Pháp Điện, Pháp Vũ về chùa Dâu thờ bà Pháp Vân, là chị cả; sau đó cả 4 bức tượng được rước về “chùa mẹ” là chùa Tổ.

"Với nhiều phật tử, trước khi ghé chùa Dâu phải ghé qua chùa Tổ vì muốn thăm con gái thì phải đi thăm mẹ, mặc dù quy mô và vị trí của chùa Tổ không được như chùa Dâu nổi tiếng. Làng tôi cứ vài năm một lần lại có đám rước bà chúa của làng về “chầu” ông Hoàng, nhưng chưa bao giờ tôi được xem một đám rước 4 chùa quy về một chốn như ở chùa Tổ", bác kể.

Ao nước không bao giờ cạn
Dulichgo
Nhắc tới các truyền thuyết tại ngôi chùa Tổ, mấy người bạn "thổ địa" dẫn tôi đến chùa vẫn truyền nhau về ao nước không bao giờ cạn nơi sân chùa. Vòng từ gian trước sang phía sân bên phải sẽ gặp một ao nước. Tương truyền năm đó mất mùa, người dân vùng quanh đó đói khổ, đất đai khô cằn. Khi Man Nương cắm cây gậy tích trượng của vị sư Khâu Đà Là xuống đất thì có mạch nước phun lên trời, tưới tắm cho cả vùng đồng ruộng.

< Sân trong với ao nước nằm bên hông trái của chùa.

Mạch nước năm xưa ngày càng mở rộng, trở thành một ao bèo đằng sau chùa Tổ. Ao nước này được cho là không bao giờ cạn, dù người dân xung quanh đã vài lần tát ao, nhưng cứ bơm nước ra thì mức nước lại dâng lên. Nhiều người thử cắm que tre xuống lòng ao thì không thấy chạm đáy. Bây giờ, người dân cũng không ai đụng tới ao đó vì coi đây là nơi linh thiêng của chùa.

Có giả thuyết cho rằng, ao nước được thông với sông, nên cứ khi nào nước vơi thì lại tự động dâng cao. Chiều chiều, những người cao tuổi lại tới sân chùa trò truyện, cạnh bên ao nước và kể lại những câu chuyện xưa.

Giếng nước mắt rồng

< Giếng nước mắt rồng phải với lối lên xuống như hàng lông mi.
Dulichgo
Ngồi nói chuyện với các cụ cao niên trong làng, chúng tôi được nghe nhiều câu chuyện về kiến trúc cũng như những vị trí đặc biệt trong ngôi chùa. Trước cửa sân chùa Tổ có 2 ao nước nhỏ, mùa mưa nước ngập đầy, mùa cạn xâm xấp nước, có thả súng tím. Hai giếng nước đặt cạnh nhau, cách lối đi thẳng dẫn vào gian chính cổng chùa. Nhìn từ xa, hai ao nước nhỏ như hai con mắt của rồng với một đầu tròn bầu, một đầu hất nhọn lên như đuôi mắt.

Với ý nghĩa tâm linh và lịch sử lâu đời, các nhà phong thủy cho rằng ngôi chùa Tổ được xây trên long mạch phần ở đầu rồng. Vị trí hai giếng nước chính là mắt rồng. Người ta cho rằng khi người lễ chùa đi từ cổng chính ngôi chùa qua sân gạch và soi mình xuống giếng nước thì mắt rồng có thể phân biệt được ai là người tốt ai là người xấu.

< Tạo hình nghê trong sân chùa.

Trong khi những ngôi chùa khác ngày càng được tu sửa quy mô, rộng rãi thì chùa Tổ vẫn nằm lặng lẽ trong khuôn viên rợp bóng cây xanh. Gian chính chùa ẩm thấp, với nhiều khoảng mái bị dột.
Dulichgo
Mãi tới tận bây giờ, ngôi chùa mới được tu sửa do tượng bà Man Nương và Khâu Đà La bị nước mưa làm hư hại phần nào.
Nhưng với nhiều người thích vãn cảnh chùa, có lẽ ai cũng mong ngôi chùa mãi giữ được vẻ tĩnh mịch, thanh bình như bây giờ, để lại có những buổi chiều ghé thăm chùa và quên đi hết những bộn bề của cuộc sống.

Theo Bùi Minh Đức (báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!

Thứ Ba, 17 tháng 11, 2015

Chùa Linh Sơn – Núi Cao Cát

Chùa Linh Sơn – Núi Cao Cát là một quần thể thắng cảnh đẹp của huyện đảo Phú Quý. Du khách đến Phú Quý không nên bỏ qua cơ hội đến đỉnh núi phóng tầm mắt ra xa, ngắm nhìn toàn bộ hình ảnh đảo Phú Quý đẹp như một bức tranh sơn thủy hữu tình.

< Núi Cao Cát với tượng Phật Bà trên đỉnh.

Không khí nơi đây trong lành mát dịu tạo cảm giác dễ chịu cho du khách sau bao ngày làm việc căng thẳng mệt mỏi. Du khách đến xã Long Hải bằng các phương tiện giao thông đường bộ đều đi đến chân núi Cao Cát dễ dàng, sau đó đi bộ theo các bậc thang bằng đá để lên chùa Linh Sơn và đỉnh núi.

Buổi sáng tinh mơ du khách bước chân lên đến cảnh chùa trong không khí thanh bình và bình minh ló rạn thì bạn sẽ ngỡ ngàn trước cảnh đẹp nơi đây. Đúng như câu thơ ghi trên vách đá "Khen ai khéo tạo cảnh Chùa, Trên sơn dưới thuỷ bốn mùa xanh tươi".

Quả thật như vậy, từ Núi Cao Cát bạn có thể nhìn bao quát cả Đảo. Từ biển nhìn vào, người ta bảo đó là biểu tượng của Rồng Biển, ngọn Núi Cao Cát là đầu rồng trải dài đến Mộ Thầy là đuôi rồng. Có lẽ do vậy nên người ta gọi đó là Long Hải.
Dulichgo
Khi bước chân lên Chùa, khách sẽ một cảm giác bình yên lạ thường khi nhìn thấy ngôi chùa Linh Sơn cổ kính với những rừng cây đại thụ bạt ngàn bao phủ.

Linh Sơn tự với một màu xanh lúc ẩn, lúc hiện tạo nên một khung cảnh thâm nghiêm nơi chốn Phật tràng, tiếng chuông chùa ngân vang và mùi hương vị phảng phất của nhang trầm làm cho du khách như thoát khỏi cuộc sống trần tục.

Tổng thể kiến trúc chùa Linh Sơn với những hạng mục kiến trúc độc đáo được tạo dựng khá khang trang và bề thế. Theo một số tư liệu còn lưu lại, thì chùa Linh Sơn được bà Trần Thị Tấn đứng ra huy động giới Phật tử và nhân dân trên đảo tạo dựng vào đầu thế kỷ XX.
Dulichgo
Từ khi tạo dựng đến nay ngôi chùa trở thành nơi thu hút đông đảo tín đồ Phật tử và người dân trên đảo đến chiêm bái Phật. Đây cũng là nơi thu hút nhiều khách du lịch trong nước và quốc tế đến tham quan, vãn cảnh.

Từ Chùa Linh Sơn, khách đi lên đỉnh núi để ngắm nhìn toàn bộ khung cảnh hùng vĩ của thiên nhiên. Trên đỉnh núi là nơi được chọn để đặt tượng Phật Bà Quan Âm uy nghi. Nhìn qua phía đông chúng ta mới thấy sự diệu kỳ của tạo hóa, những vách núi xoắn trôn ốc tạo nên sự kỳ bí huyền diệu làm cho du khách như đang lạc vào thời tiền sử, nhìn về phía đông xa hơn nữa là Mộ Thầy Sài Nại với những ghềnh đá đen, nhìn về phía Nam là nương rẫy xanh tươi của người dân nơi đây, phía Tây ta sẽ bắt gặp Đền Thờ Công Chúa Bàn Tranh và Núi Cấm với ngọn Hải Đăng định hướng cho tàu thuyền vào ban đêm. Phía Tây Bắc là xóm làng, nhà ở của dân xứ đảo.

Đến Cao Cát không chỉ đơn thuần là chuyến hành hương đến Linh Sơn bái Phật mà còn là chuyến du ngoạn đầy kỳ thú. Sau những ngày lao động vất vả, du khách đến đây đứng trên đỉnh núi để thả hồn mình hòa cùng thiên nhiên, ngắm sóng nước mêng mông, đại dương bao la xen lẫn màu xanh của cây lá và tận hưởng nhịp sống yên bình, thân thiện của người dân nơi đây.

Khách sẽ cảm thấy tinh thần sảng khoái và giảm bớt những căng thẳng mệt nhọc vất vả của mọi lo toan trong cuộc sống đời thường. Trong tương lai, tuyến du lịch Mộ Thầy - Chùa Linh Sơn, núi Cao Cát - Đền thờ Công Chúa Bàn Tranh sẽ trở thành một trong những điểm du lịch văn hóa và sinh thái hấp dẫn có sức thu hút đông đảo du khách gần xa.

Du lịch, GO! tổng hợp, ảnh internet

Thứ Tư, 28 tháng 10, 2015

Động Hương Tích – Nam thiên đệ nhất động

Động Hương Tích cách Hà Nội gần 70 km về phía Tây Nam. Đây là một động đẹp, trọng tâm của khu du lịch quốc gia Hương Sơn thuộc huyện Mỹ Đức tỉnh Hà Tây nay thuộc thành phố Hà Nội.
Động Hương Tích vốn có từ thời kỳ vận động tạo sơn, được phát hiện vào thế kỷ XI và đưa vào thờ Phật từ năm 1687. Xưa kia động Hương Tích không một bóng người qua lại, cho đến khi cố Hoà thượng Vân Thuỷ Thiền Thiên Trần Đạo Viên Quang trụ trì chùa Thiên Trù nhân một chuyến vãn cảnh núi non Hương Sơn đã tìm ra cửa vào động.

< Thiên nhiên khoáng đạt nhìn từ cửa động.

Sách Dư địa chí của Phan Huy Chú chép rằng: “… Núi Hương Tích ở phía tây núi Tuyết Sơn theo khe suối đi ngược lên, leo nhiều tầng núi mới vào động. Cảnh thiên nhiên như quỷ thần tạc rất lạ và khéo, là động đẹp nhất miền Nam Hải…Tương truyền, Phật Quan Âm Bồ Tát cầm tích trượng sang phương Nam trụ trì ở đây… mỗi năm ngày xuân về thiện nam, tín nữ ở các phương đến động dâng hương…”

Tháng ba năm Canh Dần (1770), Chúa Trịnh Sâm từng tham quan động và đặt tên cho động là "Nam Thiên đệ nhất động" tức động đẹp nhất trời Nam.

< Muốn lên động Hương Tích phải đi hơn 2km đường núi, từ chùa Thiên Trù. Nhiều hàng quán do người dân mở dọc đường phục vụ du khách. Du khách cũng có thể chọn đi cáp treo lên động chỉ mất khoảng 5 phút.
Dulichgo
Nhìn toàn cảnh, động Hương Tích nhìn giống như một cái đầu Rồng đang há miệng vờn ngọc, núi Đụn Gạo là lưỡi rồng còn những khối thạch nhũ cao to trổ xuống là răng rồng…mà đuôi rồng thì ở tít núi Ái Nàng – Hang Nước. Trước cửa động nhìn sang là một ngọn núi nhỏ, tròn xinh giống như viên ngọc minh châu, thường được gọi là thung Cháu (hay một số người lại gọi lài thung Châu). Quả núi có động Hương Tích là núi cao thứ nhì trong toàn hệ thống núi rừng Hương Sơn.

Trong động có pho tượng Phật bà Quan Âm làm bằng đá xanh tạc thời Tây Sơn và hàng vạn nhũ đá nhấp nhô với biết bao hình thù kỳ lạ: Bầu Sữa Mẹ, Hoa Phiền Não, Đụn Gạo, đụn Tiền, núi Cậu, núi Cô, Cây Vàng, Cây Bạc,...
Động còn có "đường lên trời" và "lối xuống âm phủ". Đường lên trời là một sườn đá dốc càng leo cang cao, lối xuống âm phủ là một cái khe đưa xuống hang sâu dưới đất.

Ngọn núi cao nhất ở đây là núi Bà Lồ, ở phía trước núi động Hương Tích. Nghe một số cụ già trong làng Yến Vĩ kể lại thì trước đây trên núi Bà Lồ cũng có một ngôi chùa cổ đã đổ nát.

< Vẻ đẹp kỳ ảo của nhũ đá trên trần động.

Ở bên ngoài cửa động, trước khi theo các bậc đá đi xuống, chúng ta có thể nhìn thấy một tấm bia hình vuông tạc ngay trên một phiến đá có một bài thơ vịnh Hương Sơn viết khắc bằng chữ Nho theo lối thảo cổ, nét chữ như “rồng bay phượng múa”. Đó là bài thơ của Bùi Dị - một đại thần Dương triều – xưa kia đã từng đi xứ sang Trung Quốc, trong đó có câu: “Mưa đấy, tạnh ngay đấy; Ngày lâu, tháng cũng lâu”.
Dulichgo
Cửa động Hương Tích được tạc bằng đá xanh theo từng phiến, ghép từng viên. Theo một số tài liệu của các cố Hoà thượng trụ trì chùa Hương và già lão thôn Yên Vĩ cho biết thì cửa động được xây dựng từ năm Bính Dần (1914) đến năm Đinh Mão (1918) do thợ Kiện Khê tỉnh Hà Nam được nhà chùa thuê làm cùng với sự trợ giúp của người dân làng Yến Vĩ .

Động Hương Tích là đích đến cuối cùng, sau thời gian khá dài leo núi, người hành hương đặt chân vào động như lạc vào cõi bồng lai tiên cảnh. Động gắn liền với rất nhiều bài thơ nổi tiếng:

Đường vào Hương Tích lượn quanh,
Nước non gấm dệt, màu xanh phủ màn.
Người Niệm Phật, khách tham quan,
Suối thanh tịnh rửa nhẹ nhàng trần duyên...
Dulichgo
Động Hương tích đã trở thành nơi thờ phật lớn nhất của di tích Chùa Hương. Nói đến Trẩy hội chùa Hương tức là nói đến chùa trong động này. Chùa có nhiều tượng quý, Đặc biệt là tượng Phật Bà Quan Âm bằng đá xanh, tạc vào thời Tây Sơn Cảnh Thịnh năm thứ hai(1793). Tượng do viên quan võ tên là Nguyễn Huy Nhật cúng tiến. Vào mùa hội tháng giêng, tháng hai hàng năm, động Hương Tích xanh um màn khói hương tỏa ra và rì rào những âm thanh hỗn hợp trầm trầm của khách hành hương.

Du lịch, GO! tổng hợp

Thứ Ba, 27 tháng 10, 2015

Lăng Bình Giang Quận công Võ Di Nguy

Khu vực gò đất cao từ Bà Chiểu tới Phú Nhuận là nơi có nhiều lăng mộ của các công thần thời Trung Hưng nhà Nguyễn, từ Tổng trấn Gia Định Lê Văn Duyệt, Phan Tấn Huỳnh, Phó Tổng trấn Trương Tấn Bửu tới các vị tướng như Võ Tánh, Võ Di Nguy; những người này tuy không sinh ra ở Gia Định nhưng sự nghiệp lại gắn liền với vùng đất này.

Võ (Vũ) Di Nguy theo sử sách nhà Nguyễn thì ông là người huyện Phú Vang (Vinh), phủ Thừa Thiên, ông có công theo Nguyễn Ánh đi Vọng Các (Băng Cốc – Thái Lan ngày nay) – được xếp vào “Bậc nhất Vọng Các công thần”, giỏi thủy chiến, từng làm Cai cơ, quản thuyền Nội Thủy, Trung Thủy, có công rất lớn trong việc xây dựng thủy quân Nguyễn Ánh trong cuộc chiến tranh với Tây Sơn ở Gia Định (1790 – 1801).

Ông mất năm 1801 trong trận đánh tại cửa biển Thị Nại, Quy Nhơn khi cùng Lê Văn Duyệt đốc chiến. Thi hài ông được đưa về Gia Định chôn cất và thờ ở đền Hiển Trung. Năm 1807 được Gia Long tặng hàm Thiếu Bảo và được thờ ở miếu Trung Hưng công thần tại Huế, đầu đời vua Minh Mạng được tặng hàm Thái Bảo, năm 1831 được vua Minh Mạng truy phong Bình Giang Quận công.

Tọa lạc tại Số 19 đường Cô Giang, Phường 2, quận Phú Nhuận ngày nay, Lăng Võ Di Nguy với kiểu kiến trúc chỉ dành cho bậc đại công thần được chia làm hai khu: khu đền thờ phía trước và khu mộ phía sau.

Mộ được đắp bằng ô dước, nhô khỏi mặt đất khoảng 0,25 m, hình chữ nhật với kích thước 2 x 1,6 m. Với kiến trúc gồm bình phong trước, bình phong sau, vòng tường bao xung quanh cùng các trụ cột là những thành phần che chắn, bảo vệ cho phần mộ ở giữa. Mộ được xây dựng có dạng hình chữ nhật vuông xung quanh khắc các đường trang trí và hình tượng “dây lá hóa rồng” đang bay lượn.
Dulichgo
Cách đầu mộ khoảng 1,8 m là bức bình phong hậu bằng ô dước hình chữ nhật, hai bên đắp phù điêu rồng chầu: đầu ôm cột có đính tòa sen, đuôi quấn chân bình phong (phong cách Angkor); ở giữa là 2 ô bài vị khắc chữ Hán: ô bên phải nói về công trạng của Võ Di Nguy, bên trái nói về thân thế phu nhân Võ Di Nguy. Tuy nhiên hầu hết chữ đã phai mờ rất khó đọc.

Khu tiền mộ (sân trước mộ) được ngăn bởi hai bờ tường, chừa cổng vào ở giữa. Đặc biệt, sinh thời Võ Di Nguy là danh tướng thủy quân (tước Bình Giang Quận công) nên trên mỗi bờ tường có tượng con rái cá.

Một hồ nước nhỏ gắn với bức bình phong cao khoảng 1,8 m hai bên có tượng hai con sư tử mắt lồi, đuôi xòe, nhe răng ôm lấy bình phong có chiều ngang 3 m. Mặt trong bình phong chạm hình “vân tùng lộc” (mây, cây tùng và hươu nai), mặt ngoài bình phong rong rêu đã phủ kín.

Đặc biệt, giữa sân phía trước mộ có tượng 2 con lân nhỏ rất đẹp, xứng đáng được liệt vào “tượng linh vật thuần Việt”, đó là chưa kể trên 2 cột trụ vuông có đặt 2 con lân lớn cũng uy mãnh và đẹp không kém... Trước mộ có bệ thờ bằng ô dước dài 1,4 m, ngang 0,6 m, cao xấp xỉ với mặt mộ. Trên bàn thờ đặt lư gốm to. Chân bệ thờ hình bàn quỳ kê trên 4 con kỳ lân ở 4 góc.
Dulichgo
Ngoài bờ tường phần mộ Võ Di Nguy còn có 4 ngôi mộ khác. Bên phải là mộ bà Lê Thị Mười (phu nhân Võ tướng công) và mộ người con trai thứ Võ Di Thiện. Bên trái là mộ người con dâu tên Triệu Thị Đào và một mộ phần vô danh. Cạnh 2 mộ này có một giếng nước cổ. Toàn bộ khu mộ được đắp nổi nhiều hình tượng và trang trí nhiều mô típ hoa văn độc đáo, sống động: búp sen, kỳ lân, rồng, hổ, rái cá; tùng lộc, lộc bình, hoa điểu, hoa cúc dây… cùng nhiều bài thơ ghi công đức của ông và phu nhân.

Đền thờ có từ khi xây cất xong khu mộ, kiến trúc hiện nay của khu đền thờ là kiến trúc được xây dựng lại trong đợt trùng tu vào năm 1972; với kiến trúc chính điện là ngôi nhà tứ trụ truyền thống Nam bộ cùng hai dãy nhà phía Đông và phía Tây hai bên. Bên trong, tại Chính điện có bàn thờ Hội đồng ở giữa, phía trong là các án thờ Võ Di Nguy và người cháu ruột là Võ Di Thái được phong tước Bình Giang Bá, riêng án thờ Võ Di Nguy có bài vị khắc chữ Thần thếp vàng. Trong chính điện còn treo các bức hoành phi, liễn đối bằng chữ Nho thể hiện công trang của Võ Di Nguy.

Ngoài những vật dụng, linh vật thường thấy trong các đình, đền Nam bộ (tượng bạch mã, cặp hạc đứng trên rùa, lọng, thập bát binh khí...), đền còn lưu giữ 2 sắc phong của vua Minh Mạng năm thứ 13 (1832) đề ngày 11 tháng giêng âm lịch và ngày 14 tháng 12 âm lịch, truy phong tước phẩm, ghi trên lụa vàng, đựng trong hộp gỗ cuộn vải đỏ được đặt trong khám thờ. Đặc biệt, vì Võ Di Nguy là tướng thủy binh nên trong các vật thờ cũng có một thuyền rồng.

Đền thờ và mộ Võ Di Nguy là một công trình kiến trúc nghệ thuật có liên quan tới nhân vật lịch sử thời chúa Nguyễn. Đây là kiến trúc lăng mộ có tính chất uy nghi, độc đáo vào bậc nhất của các công thần thời Nguyễn ở Nam bộ. Công chúng tới đây có thể nhận thấy nhiều điều thú vị về cuộc sống và xã hội của con người trong quá khứ một thời ở đất Gia Định xưa. Lăng Võ Di Nguy được Bộ Văn hóa  – Thông tin xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia theo Quyết định số 43-VH/QĐ ngày 07 tháng 01 năm 1993.

Theo Thanh Niên, sách Hành trình di sản văn hóa TP.HCM...
Du lịch, GO!