Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong tục - Văn hóa VN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong tục - Văn hóa VN. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 10 tháng 12, 2015

Đi qua vùng đất thiêng của người Chăm

(DNSG) - Nằm yên bình bên bờ sông Hậu, thật dễ dàng để vào các làng Chăm ở An Giang. Dưới bóng những thánh đường, đằng sau những khung cửa sổ, giữa sặc sỡ những gam màu thổ cẩm, đôi mắt những cô gái Chăm vời vợi. Vùng đất linh thiêng này chứa đựng vô vàn điều lý thú.

Không phải là những cánh đồng mênh mang mùa nước nổi, hay cảm giác chông chênh trên chuyến phà ở đầu nguồn sông Hậu, Châu Giang trong tôi chỉ đơn giản là cảm giác linh thiêng khi ngồi dưới những thánh đường cao vút hình củ tỏi cùng những người đàn ông Chăm mặc váy, có nước da đen, luôn hồn hậu với khách.

Tôi không nhớ mình đã đến các làng Chăm ấy bao nhiêu lần, chỉ biết rằng, cứ mỗi mùa mưa, khi nghe tin nước nổi đang về, mình lại mê mải muốn trở lại Châu Giang, trở lại vùng đất linh thiêng chỉ để loanh quanh tìm kiếm những điều mơ hồ, kiểu như bàn tay thon dài người con gái Chăm chậm rãi kéo chiếc khăn trùm che kín đôi má hồng...

Nhớ cách đây mấy năm, có đận nước về nhiều, dâng cao chừng ba mét, nghe đài với tivi cứ ra rả suốt ngày mùa lũ năm nay bất thường, rằng có thể do biến đổi khí hậu toàn cầu, rằng dòng sông mẹ Mê Kông đang bị đe dọa nghiêm trọng.
Dulichgo
Lúc ấy, ngồi cùng tôi bên bến phà Châu Giang bờ phải sông Hậu, trong căn nhà sàn gỗ bóng màu thời gian, ông Cả (người lớn tuổi, uy tín nhất ở làng Chăm) cười hề hề, bảo, chỉ có những ai chưa từng đến Châu Giang, chưa đặt chân tới đầu nguồn sông Tiền, sông Hậu mới gọi nước nổi là nước lũ.

Cùng là nước mưa phía thượng nguồn đổ về hạ lưu sông nước ở các dòng sông khác có thể là những cơn lũ cuốn trôi tất cả, từ tài sản đến sinh mạng con người nếu bất cẩn, nhưng nước đổ về vùng đồng bằng Nam bộ lại hiền hòa, mang lại nguồn sống cho cư dân, như một đặc ân riêng biệt mà thiên nhiên dành cho vùng đất thấp này.

Vì thế, người dân mong chờ mùa nước nổi - một trong những mùa mưu sinh chính của người nghèo nơi đây với rất nhiều sản vật đặc trưng. Ngày nay, cuộc sống không còn phụ thuộc vào tự nhiên một cách thuần túy như xưa, nhưng đối với người Chăm nói riêng và cư dân châu thổ nói chung, mùa nước nổi vẫn là mùa được mong chờ, dù có thể ruộng vườn, nhà cửa đều chìm trong mênh mông nước là nước.

Theo dân Châu Giang, xóm người Chăm ở đây hiện có 10 nhà sàn bằng gỗ có tuổi vài trăm năm, có căn cách đây khoảng ba trăm năm, khi những người Chăm đầu tiên định cư ở vùng đất sơ khai này từ đời chúa Nguyễn Phúc Chu, năm 1699.

Ở những nơi cao ráo, nhiều căn nhà bằng gỗ quý không hư hỏng vài trăm năm là bình thường, nhưng ở vùng đất mà mỗi năm có tới 4 - 5 tháng chìm trong nước như Châu Giang thì việc chúng tồn tại lại là điều đặc biệt.
Dulichgo
Theo ông Cả, do nguyên liệu làm nhà là gỗ tràm cừ cổ thụ - loài cây mọc trong nước, chịu nước bao lâu cũng không mục - nên tuổi thọ nhà sàn của người Chăm mới cao như vậy. Bây giờ thì những cây tràm cả người ôm không còn nên làm nhà vài ba năm là phải thay cột kèo.

Có điều trái ngược là hầu hết nhà gỗ tràm của người Chăm đều cấu trúc đơn giản, ít họa tiết trang trí thì những thánh đường Hồi giáo (Masjid) - những kiến trúc công cộng độc đáo của người Chăm lại hoàn toàn ngược lại, vừa hoành tráng, vừa tỉ mỉ trong từng chi tiết trang trí.

An Giang có 9 xóm Chăm với hơn 2.000 gia đinh, trên 13 ngàn người sống tập trung thành những ấp hay liên ấp và có đến 26 thánh đường và tiểu thánh đường Hồi giáo cổ kính, đẹp lộng lẫy, nóc bằng vòm cao và cửa luôn quay về hướng Đông. Nổi tiếng nhất là thánh đường Mubarak ở xã Phú Hiệp, Phú Tân, được xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Trong lịch sử mấy trăm năm, người Chăm luôn gìn giữ được những nét văn hóa độc đáo, trong đó có phong tục thủy táng, tức là mai táng người đã khuất ở dưới nước. Bây giờ, phong tục này tất nhiên không còn nữa, kể cả những người theo đạo Hồi ở dòng sông Hằng bên Ấn Độ linh thiêng.

Tuy nhiên, theo những người cao tuổi ở làng Chăm, tục thủy táng từng tồn tại hàng trăm năm trước ở vùng thượng nguồn này, đặc biệt là mỗi khi mùa nước nổi tràn về. Khi ấy, do cả vùng đất này ngập chìm trong mênh mang nước là nước. Vùng rốn nước có khi cách bờ cả chục cây số, ai qua đời trong những thời điểm ấy có thể được an táng bằng cách chôn trong nước, chìm vào dòng chảy mát lành của phù sa.
Dulichgo
Ngày nay, hầu hết những người theo đạo Hồi chỉ coi thủy táng là nghi lễ chứ không còn trong thực tế, vì ô nhiễm môi trường hay nhiều lý do khác.

Tuy nhiên, đó chưa phải là tất cả những gì lạ lùng tôi thấy ở các cộng đồng làng Chăm. Anh Mohamed từng có thời gian theo bạn lên Sài Gòn làm công nhân cho một chành (vựa) hành tỏi chuyến Châu Đốc - Sài Gòn ở Chợ Lớn mấy năm kể, dù xa nhà nhưng vẫn luôn nhớ những giới luật mình đã được dạy từ bé.

Nghĩa là mỗi ngày anh cũng hành lễ đến 5 lần. Vì không có thánh đường nên anh dùng mảnh vải thổ cẩm nhiều màu làm bàn lễ. Cứ hướng theo hướng Mặt trời trải thảm, rồi hành lễ. Ban đầu, chủ chành và các công nhân khác lấy làm lạ nhưng dần dà mọi người đều quen. "Người Chăm chúng tôi là vậy, dù ở đâu, làm gì thì cội nguồn vẫn là điều linh thiêng nhất", anh nhấn mạnh.

Ở một vùng đất có nhiều tín ngưỡng, nhiều dân tộc như vùng Châu Giang này nhưng thật lạ, văn hóa người Chăm ít bị mai một nhất. Nghĩa là sau mấy trăm năm, cộng đồng người Chăm - một cộng đồng vừa khép kín, vừa cởi mở với những quy định khắt khe của giới luật - luôn giữ được gần như nguyên vẹn những gì cha ông để lại, bất kể cuộc sống gia đình họ có thể giàu lên hay nghèo đi, có thể ở đây hay đã tìm tới một vùng đất khác...

Theo Đoàn Đại Trí (Doanh Nhân Sàigòn)
Du lịch, GO!

Làng Chăm ở búng Bình Thiên
Trở lại Châu Giang
Về Châu Giang thăm thánh đường Mubarak

Thứ Sáu, 4 tháng 12, 2015

Hòn Nẹ trong đời sống văn hóa cư dân xứ Thanh

(VHĐS) - Vùng biển Thanh Hóa gồm có ba hòn đảo lớn đó là đảo Hòn Nẹ nằm ở phía Bắc thuộc xã Hải Tiến huyện Hoằng Hóa, về phía Nam là đảo Mê nằm tại xã Hải Bình và hòn đảo Biện Sơn thuộc xã Nghi Sơn, huyện Tĩnh Gia.

<Ngắm Hòn Nẹ bằng dù lượn xuất phát từ biển Hải Tiến.

Và đảo Hòn Nẹ được đánh giá là hòn đảo đẹp nhất tại Thanh Hóa, hòn đảo nằm ngoài khơi vịnh Bắc Bộ, Biển Đông cách bờ biển Hoằng Hóa khoảng 5 km về phía Đông Bắc.

Về Hòn Nẹ hôm nay, chúng ta lại nhớ đến bài thơ Mẹ Tơm của nhà thơ Tố Hữu với những câu:
“Hòn Nẹ ta ơi, mảng về chưa đó,
Có nhiều không con nục, con thu?
……
Bãi cát vàng thau in bóng mẹ Chiều về,
Hòn Nẹ… biển reo quanh…”.

Đảo Nẹ cách bờ biển xã Ngư Lộc, huyện Hậu Lộc 6 km về phía Đông, đây là một cù lao đồi dài gần 900m, bề ngang nơi rộng nhất 400m, hướng Tây Nam - Đông Bắc, cao nhất về góc Tây Nam (có đỉnh 70,8m), thấp dần về bờ đảo Đông Bắc. Trung tâm đảo là điểm gặp nhau của kinh tuyến 106000’12’’ Đông và vĩ tuyến 19054’50’’ Bắc. Đảo Nẹ vừa là vị trí quân sự tiền tiêu mặt Đông của huyện Hậu Lộc, vừa là cột mốc chỉ đường cho tàu thuyền đánh cá ngoài khơi xa tìm về đúng bến, vừa là nơi trú ẩn an toàn cho thuyền bè khi có sóng to gió lớn.
Dulichgo
Đảo Nẹ cùng với các đảo nhỏ (hòn Bò, hòn Sụp) và núi Linh Trường (huyện Hoằng Hóa) tạo thành một cánh cung án ngữ sóng gió mặt Nam và mặt Đông. Nhờ địa thế này, từ những ngày đầu lịch sử, con người đã tụ tập khá đông đúc tại nơi đây sinh sống chủ yếu bằng nghề đánh cá. Khoảng thế kỷ  I, II trước Công nguyên, thành lũy huyện Dư Phát thuộc quận Cửu Chân đã xây dựng ở đây.

Thời Lý - Trần, Duy Tinh là nơi trấn trị thủ phủ Ái Châu. Vào những thế kỷ trước và sau Công nguyên vùng biển này đã từng là thương cảng quan trọng trên đường hàng hải từ Trung Quốc đến các nước Đông Nam Á và Ấn Độ. Trong không gian địa – văn hóa, địa – chính trị, văn hóa Lạch Trường đã ra đời ở đây, nơi giao thoa, hội nhập đầy đủ sống động đã được các học giả người Pháp như: Bêgiaxiê đặc biệt chú trọng. Dưới các triều đại phong kiến độc lập, lần nào hành quân vào phương Nam trừng trị bọn phong kiến láng giềng đe dọa bờ cõi nước ta, thủy quân Đại Việt đều lấy cửa biển Lạch Trường làm vị trí xuất quân. Trong chống Pháp và chống Mỹ vùng biển này cũng là một trong những đầu mối giao thông lớn vào Nam ra Bắc và là điểm tựa chiến đấu của tàu hải quân ta chống lại những cuộc tấn công của kẻ  thù.

Ngoài vị trí chiến lược, vùng đảo Nẹ còn là danh thắng hữu tình. Theo “Đại Nam nhất thống chí” vào năm Hồng Đức thứ 7 vua Lê Thánh Tông có lần qua đây đã cảm tác bài thơ vịnh cảnh “Linh sơn hải khẩu”  vịnh về non nước, nơi đây và bài tựa nói: “Bên cạnh nước biển, núi xanh cao chót vót, hình núi dị kỳ đứng sững cửa biển, chân núi có động sâu thẳm không cùng ….”
Dulichgo
Nhân dân vùng Quang Lộc lưu truyền hai huyền thoại về “Gia đình nhà Núi” với khá nhiều chi tiết độc đáo, hấp dẫn, theo đó hòn Nẹ được coi là con của núi Sỏi và núi Chúa và là mẹ của núi Bần..

Để trụ vững nơi đầu sóng ngọn gió, người dân đi biển phải dựa vào lực lượng siêu nhiên nào đó để nhân lên sức mạnh tinh thần, chính điều đó đã hình thành và mang đến cho người dân nơi đây tín ngưỡng và tục thờ thủy thần để cầu ngư, cầu sóng yên biển lặng, không bão tố lụt lội, mong thần linh che chở, bảo hộ trên sông biển mỗi khi ra khơi vào lộng, giúp những thương thuyền buôn bán ngược xuôi và cả những người trồng lúa phụ thuộc hoàn toàn vào thời tiết.

Tục thờ cá voi (ông Nam Hải) gắn với một hiện tượng có thật về cá voi hay cứu người, cứu thuyền lúc bão tố ngoài khơi và lễ hội cầu ngư được tổ chức ở đây với những nghi thức trang trọng, thành kính. Cùng với các làng trong đất liền, tại Đảo Nẹ người ta cũng cho xây dựng một ngôi đền thờ thủy thần.

Cứ ba năm lễ hội lớn ở làng Diêm Phố được tổ chức định kỳ vào mùa xuân, trong ba ngày, từ 22 đến ngày 24 tháng 2 âm lịch. Tín ngưỡng này gắn liền với lễ hội Cầu Ngư (xưa còn gọi là Cầu Mát) thờ các vị thần biển và đám rước Hội đồng thần linh của làng, đó là một trong những lễ hội lớn nhất của ngư dân không chỉ ở Hậu Lộc mà còn có sức thu hút cả những ngư dân miền biển tỉnh Thanh về dự.

Lễ hội kéo dài trong ba ngày liền. Ngày đầu tiên (ngày 22) tùy theo con nước lớn ròng để thuyền cập vào đảo, dân làng tổ chức rước kiệu từ đền thờ cá  Ông lên thuyền ra đảo Nẹ. Sau khi đám rước từ đảo Nẹ về thì yên vị tại khu thờ tự của làng để sáng hôm sau (ngày 23) rước về đàn tế. Xưa, trong lễ hội còn tổ chức hát bội (hát tuồng) tại đền thờ cá Ông.

Sáng ngày 24, dân làng rước cỗ từ nhà trọ tới đàn tế. Tại đàn tế, dân làng tề tựu đông đủ để tế lễ Đức Ông Nam Hải và các vị thủy thần, sau đó rước Long Châu đến cửa biển chỗ giao nhau của thủy triều nơi nước sông gặp nước biển để tiễn Long Châu về với biển khơi.
Dulichgo
Với những nghi lễ như vậy dân làng tin rằng cá Voi và các vị thần linh sẽ phù hộ độ trì cho thuyền bè của họ được "xuôi chèo mát mái", cuộc sống no đủ, bình yên, hạnh phúc. Trong lễ hội cầu ngư dân làng thường tổ chức bơi thuyền làm đẹp lòng các vị thần biển và cá Voi vừa để rèn luyện sức khỏe dẻo dai, sự lanh lợi của ngư dân làm nghề chài lưới trên sông biển.

Ở vào khu vực có nhiều cửa lạch châu tuần. Vùng biển nơi đây thuộc diện  nông, yếu tố nhiệt độ trong nước ít diễn biến phức tạp, là nơi tụ họp của nhiều loại thủy sản có giá trị kinh tế cao như: cá thu, cá nụ, cá nhám, cá rưa..., tôm hùm, tôm he, mực ống, mực ván, ốc hương... nơi đây thực sự tiềm tàng nhiều khả năng phát triển kinh tế phồn thịnh.

Nhà thơ Tố Hữu có những câu thơ hay về vùng biển đảo này: “Hòn Nẹ ta ơi, mảng về chưa đó/Có nhiều không con nục, con thu/Chào những buồm nâu, thuyền câu Diêm Phố/Nhớ nhau chăng hỡi Hanh Cát, Hanh Cù”.
Dulichgo
Thiên nhiên và lịch sử đã đem lại cho nơi đây một vùng thắng cảnh  sơn thủy hữu tình, có biển cả giàu đẹp, gắn với một vùng quê đầy ắp những huyền thoại và cổ tích, với những ngày hội làng náo nức của những người dân, hiền hòa, nhân hậu và mến khách. Du khách đến nơi  đây sẽ được thưởng thức nhiều món ăn dân dã đậm đà hương vị của xứ Thanh, với các loại đặc sản: Cá trích ăn với bánh đa/Vợ ăn, chồng bảo về nhà đỡ cơm/Chợ Hôm rất lắm ốc hương/Ăn dăm ba chục vấn vương nơi này.

Với vị trí địa lý tự nhiên hiếm có, trong điều kiện phát triển của một nền kinh tế mở, khu vực biển đảo này còn tiềm ẩn một tiềm năng dồi dào về du lịch nghỉ dưỡng, về du lịch biển đảo, du lịch sinh thái và khám phá thiên nhiên. Một ngành công nghiệp có giá trị cao và phát triển bền vững.

Được sự hỗ trợ đầu tư của Nhà nước, với ý thức bảo vệ chủ quyền biển đảo, quân dân Đảo Nẹ đang đóng những con tàu vỏ sắt và trang bị mạng lưới thông tin cao để vượt sóng ra khơi bám biển dài ngày. Đánh bắt thủy sản nâng cao phát triển đời sống kinh tế và cùng với đảo Nẹ  bảo vệ biển trời, lãnh hải thiêng liêng của Tổ quốc.

Theo Đồng Văn Luân (Văn Hóa & Đời Sống)
Du lịch, GO!

Một chuyến ra đảo Hòn Nẹ

Thứ Tư, 2 tháng 12, 2015

Nhất Hà Giang

Cô bí thư tỉnh đoàn Hà Giang tự hào khoe “Hà Giang có ba cái nhất”… rồi dừng lại đó, mặc cho người nghe háo hức chờ đợi. Tôi có cảm giác như mình bị treo lơ lửng trên đôi môi chúm chím chết người của cô. Cho đến lúc biết chắc người đối diện không còn chịu đựng nổi nữa, cô mới chịu hé lộ: “Một là, nhiều đá nhất. Hai là ít nước nhất. Và ba là hiếu khách nhất”.

Gì chứ khoản hiếu khách thì tôi đồng ý. Lúc xe mới vào địa phận thành phố, Hồng Minh - người bạn dẫn tôi lên Hà Giang - gọi điện báo tin có bạn lên thăm, thế là mấy phút sau vợ chồng cô bí thư tỉnh đoàn đã xuất hiện, hướng dẫn chúng tôi đến một nhà hàng đặc sản, tự tay sắp xếp ghế ngồi, đặt món ăn, chuyện trò hồ hởi phấn khởi.

Tôi quá ngạc nhiên bởi cách tiếp khách của họ: chu đáo, chăm chút và ân tình. Rồi cả cách bắt tay của họ nữa, đó là bàn tay ấm áp, tin cậy và trân quý. Tôi vốn dị ứng với nhiều vị quan chức bắt tay mà hờ hững, tuồn tuột, chiếu lệ…

< Với quý đức ông ở chợ phiên Sà Phìn.

Lại nói về chuyện hiếu khách, hôm đến thăm chợ phiên Sà Phìn, vừa kéo ghế định gọi tô phở điểm tâm, mấy chàng trai dân tộc sà lại, lịch sự giới thiệu tên và xin phép được mời khách phương xa một cốc rượu theo phong tục Việt Bắc. Lúc đầu tôi hơi hoảng, bởi tôi chúa ghét lối uống rượu theo kiểu “Dô - trăm phần trăm”.

Hóa ra không phải, họ nâng cốc rượu ngang mày và không quên chúc nhau sức khỏe, hạnh phúc - lịch lãm và tao nhã như là quý ông thật sự. Thêm điểm này nữa càng làm tôi ngạc nhiên hơn, những thanh niên dân tộc ấy nói được cả tiếng xin lỗi, xin vui lòng, xin cảm ơn, vốn là loại ngôn ngữ quốc tế mà chỉ những tâm hồn lớn và tầng văn hóa bậc cao mới nói được.
Dulichgo
Hiếu khách, nhiệt tình, tốt bụng, lịch sự… đó là đặc điểm thứ nhất của người Hà Giang. Trong thời buổi con người sống với nhau chẳng ra gì, động một chút là nổ, là khử, là xử…, mấy ngày ở Hà Giang, cảm thấy mối quan hệ giữa người với người sao mà an toàn, ấm áp và dễ thương lạ.

Về hai cái nhất kia thì đương nhiên rồi. Công viên đá Đồng Văn nổi tiếng thế giới, được UNESCO công nhận là thành viên của mạng lưới công viên địa chất toàn cầu (GGN). Chiếm diện tích 574,35km2, trải rộng trên các huyện Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc; với độ cao trung bình 1.500m.

Công viên đá Đồng Văn mang trong lòng nó bí mật về lịch sử phát triển vỏ trái đất, những hiện tượng tự nhiên, cùng cảnh quan đặc sắc, tính đa dạng sinh học và truyền thống văn hóa lâu đời của cộng đồng cư dân bản địa; cũng là nơi có các di tích và danh thắng quốc gia như Nhà Vương, cột cờ Lũng Cú, phố cổ Đồng Văn, đèo Mã Pí Lèng, núi đôi Quản Bạ… Người Hà Giang có câu nói vịnh về mình cực kỳ biểu cảm: “Sống trong đá, chết vùi trong đá”.

< Cô gái dân tộc e ấp sau cánh cửa.

Kỳ lạ nhất là giữa núi đá cằn khô, suốt đời lam lũ, mà người Hà Giang bao giờ cũng tươi vui, yêu đời, yêu người, yêu cuộc sống; bao giờ cũng với bộ váy thêu sặc sỡ, duyên dáng và đẹp, cho dù đi dự chợ phiên hay lao động nhọc nhằn trên nương rẫy. Phẩm chất ấy khiến ta liên tưởng đến một loài cây đặc trưng của đất Hà Giang - cây gạo.

Tháng ba mùa hoa gạo nở. Dọc theo các cung đường, trên các triền đồi, bên những con suối, hoa gạo nở đầy trời. Không đỏ như hoa phượng, không thắm như hoa đào, không nồng nàn như ngô đồng, hoa gạo là tất cả hoa kia cộng lại.

Riêng cái tâm thế của nó thì không giống ai - thẳng tắp, hiên ngang, ngạo nghễ, nhưng lại bình dị, dân dã. Hẳn nó muốn chứng minh cho đời một chân lý, rằng chỉ trong nắng cháy cằn khô hoa mới nở, trong thiếu thốn khổ đau tình người mới đẹp...
Dulichgo
Về lễ hội, xem ra Hà Giang cũng có nhiều lễ hội thuộc vào hàng đệ nhất. Ví dụ: Chợ tình Khâu Vai. Cách thành phố Hà Giang 180km, bản Khâu Vai nằm trong một thung lũng đẹp, giữa những dãy núi cao chót vót, xa xa là đỉnh Mã Pí Lèng quanh năm mây mù sương khói. “Đợi anh hết mùa lạnh, đợi anh qua mùa đào. Vượt đỉnh Mã Pí Lèng, ta tìm về với Chợ tình Khâu Vai...”.

Phiên chợ bắt nguồn từ giai thoại được lưu truyền trong dân gian về mối tình của một đôi trai tài gái sắc. Chuyện kể rằng, thuở ấy có chàng trai tộc Nùng và cô gái tộc Giáy tha thiết yêu nhau nhưng không được gia đình chấp thuận.

Mối tình nồng cháy của họ khiến hai dòng tộc xảy ra xích mích, dẫn đến can qua. Không đành nhìn cảnh đầu rơi máu chảy giữa những người thân yêu ruột thịt, họ quyết định hy sinh mối tình của mình.

Trước khi xa nhau, đôi trái gái hẹn thề hằng năm, vào ngày họ chia tay (ngày 27 tháng 3 Âm lịch), tại nơi hẹn hò (bản Khâu Vai), họ sẽ lại gặp nhau để thỏa nỗi niềm thương nhớ… Lâu dần, nơi hò hẹn của họ cũng trở thành nơi hò hẹn của bao cuộc tình dở dang khác. Chợ tình Khâu Vai ra đời từ đó.

< Chợ tình Khâu Vai.

Trước đây khách đến chợ chủ yếu là những người gặp tình duyên trắc trở - họ yêu nhau nhưng không lấy được nhau. Giờ tuy ai cũng có mái ấm gia đình riêng, nhưng mỗi năm một lần, họ vẫn muốn tìm về với nhau; chia sẻ chuyện buồn vui, và ôn lại kỷ niệm một thời da diết. Có thể cả hai vợ chồng họ cùng đến chợ, để rồi chồng đi tìm người yêu cũ của chồng, vợ đi gặp người tình xưa của vợ. Sáng mai tan chợ, họ lại về với nhau, cùng chung lo hạnh phúc gia đình, và cùng mong chờ mùa chợ năm sau. Không ai lăn tăn, thắc mắc hay ghen tuông. Lãng mạn và đẹp như một bài thơ.

Ngày nay, Chợ tình Khâu Vai còn là dịp để các chàng trai, cô gái trẻ đi tìm kiếm bạn tình. Tiếng khèn, tiếng hát, điệu nhảy, rượu nồng là nhịp cầu cho bàn tay nắm lấy bàn tay, cho ánh mắt quyện vào ánh mắt, cho trái tim hòa cùng một nhịp. Yêu nhau, có thể họ không lấy được nhau. Thì có sao đâu. Mùa chợ năm sau, họ lại tìm về với nhau…

Đúng là có quá nhiều cái nhất trên đất Hà Giang, này nhé: Cam Hà Giang ngon nhất. Bản trường ca sông Lô hùng tráng nhất. Từng có ông chủ tịch tỉnh Hà Giang nổi tiếng nhất.

Con gái Hà Giang lấy chồng sớm nhất (nhiều cô gái trẻ măng, tay dắt đứa lớn, hông nách đứa nhỏ, hỏi có phải em không, trả lời không, là con đấy). Yêu dữ dội nhất (chàng trai người Mông, đêm tân hôn dùng dao chặt hết ván giường, chỉ để lại mảnh nhỏ vừa đủ cho một người nằm).
Dulichgo
Tình nghĩa vợ chồng đằm thắm nhất (từ chợ phiên về, anh chồng say túy lúy lăn ra đường ngủ, chị vợ chống dù che mưa nắng cho chồng, đợi chồng tỉnh lại rồi dìu nhau về bản), vân vân và vân vân.

Riêng cái đèo Mã Pí Lèng không thôi đã có tới hơn nửa tá nhất rồi: là cung đường đèo hiểm trở nhất, được thi công chỉ bằng sức người gian khổ nhất, xuyên qua ngọn núi cao nhất, số ngày công lao động nhiều nhất, trong thời gian lâu nhất, tổn thất nhân mạng nhiều nhất, khu vực đỉnh đèo là điểm quan sát toàn cảnh vào loại đẹp nhất, và hẻm vực sông Nho Quế là một trong những thung lũng kiến tạo độc nhất vô nhị ở Việt Nam.

Nhưng để đến được với những cái nhất của Hà Giang, bạn phải đi qua chặng đường 200km hiểm nguy nhất. Đó là những cung đường nhỏ hẹp, quanh co, gấp khúc, chênh vênh giữa một bên là vách núi dựng đứng, một bên là vực sâu hun hút, trong đó có đèo Mã Pí Lèng được mệnh danh là vua của các con đèo Việt Nam.

Bù lại những lúc phải thót tim, nín thở là khoảnh khắc thảng thốt tuyệt vời trước cảnh quan hùng vĩ và đẹp đến ngẩn ngơ. Đó là những chóp núi nhọn hoắt vấn vương mây khói, là những bản làng cheo leo trên các sườn non, là những mảnh ruộng bậc thang như tranh vẽ, là cây đại thụ bỏ quên từ hàng trăm năm trước che bóng cả một vùng, là cây đào nở muộn vẫn thắm như mới đầu xuân; là những cụ bà váy áo sặc sỡ, khuôn mặt in dấu thời gian và nụ cười Di Lặc; là những cháu bé khăn quàng đỏ, nói cười hồn nhiên trên đường đến trường - Cố lên các cháu nhé…

Bỗng nhớ về cô chủ quán người dân tộc ở chợ phiên Sà Phìn: 14 tuổi, đẹp như người mẫu, “hiền như ma xơ”, mới lớp bốn đã phải bỏ học lăn lóc chợ đời. Sao thế cháu ơi. Cô bí thư tỉnh đoàn Hà Giang cũng người dân tộc như cháu, cũng xinh đẹp như cháu, vậy mà cô ấy tốt nghiệp đại học, là cán bộ lãnh đạo đoàn, còn cháu, cái gì đang chờ đợi cháu phía trước!

Không biết cháu có biết rằng chỉ có chữ nghĩa mới là đôi cánh giúp cháu bay lên, bay qua khỏi cái thung lũng chật hẹp này, bay qua khỏi dãy núi cao vời kia, đưa cháu đến những khung trời rộng mở tốt lành, nơi đó cháu có cơ hội làm chủ vận mệnh đời mình… Ước gì tôi có thể nói với cháu điều ấy.
Dulichgo
Sau cùng, xin nói về cái nhất trong những cái nhất của Hà Giang: Cột cờ Lũng Cú. Như nóc nhà, Lũng Cú là điểm cực Bắc trên bản đồ Việt Nam, là biểu tượng thiêng liêng chủ quyền Tổ quốc. Thời nhà Lý, trong dịp hội quân trấn ải biên thùy, Lý Thường Kiệt cho dựng tại đây một lá cờ đánh dấu chủ quyền lãnh thổ. Từ đó, lá cờ được liên tục duy trì trên bầu trời biên cương Tổ quốc.

Cột cờ Lũng Cú kiêu hãnh trên đỉnh núi Rồng thuộc địa phận Lũng Cú, huyện Đồng Văn, ở độ cao 1.500m. Trong quá trình lịch sử, qua nhiều lần tôn tạo, trùng tu… cột cờ hiện nay được xây dựng và hoàn thành năm 2010 dựa theo mô hình cột cờ Hà Nội; tổng chiều cao 34,85m, đường kính 3,82m, lá cờ rộng 54m2 tiêu biểu cho 54 dân tộc anh em, đường từ chân núi lên đỉnh cột cờ tổng cộng có 893 bậc cấp.

Từ đây, có thể nhìn bao quát bản làng trù phú của các dân tộc Mông, Lô Lô, Tày, Giáy, Pu Péo. Không xa mấy về phía bắc là hòn núi nhỏ, trên đỉnh có cột mốc xác định biên giới giữa bên này là máu thịt của Tổ quốc mình, bên kia là đất đai của người bạn láng giềng môi hở răng lạnh; xa hơn chút nữa là con sông Nho Quế lặng lẽ chảy vào Việt Nam.

Tôi chụp nhiều ảnh trên đỉnh Cột cờ Lũng Cú. Hy vọng những tấm ảnh ấy sẽ góp phần khắc sâu kỷ niệm lần đầu viếng thăm biểu tượng thiêng liêng của chủ quyền Tổ quốc; và tôi cũng muốn qua đó để nhắc nhở con cháu mình rằng trong đời có những giá trị không bao giờ được lãng quên.

Theo Nguyễn Văn Dũng (Doanh Nhân SG)
Du lịch, GO!

Thứ Sáu, 27 tháng 11, 2015

Những chuyến tàu đò

(DNSG) - Đò dọc từng là phương tiện di chuyển không thể thiếu của người dân Đồng bằng sông Cửu Long với những hải trình có khi suốt vài ngày đêm. Nhưng dân Nam bộ không kêu bằng đò dọc mà là tàu đò. Chỉ có xuồng nối đôi bờ mới gọi là đò - đò ngang.

Tàu đò nối kết những vùng đất, nối kết những dòng sông. Mặc dù ngày nay không còn là phương tiện phổ biến nhưng tàu đò vẫn là một phần không thể thiếu của người dân đất Chín Rồng, như một gạch nối quá khứ với hiện tại. Tàu đò là phương tiện giao thông đầu tiên của người Việt hơn 3 thế kỷ trước, tiên phong mở mang bờ cõi về phương Nam, ngày nay vẫn tồn tại ở những đô thị như Mỹ Tho, Vĩnh Long, Cần Thơ, Long Xuyên, Rạch Giá... cho tới những vùng đất biên giới Tân Châu, Hồng Ngự, Sa Rài...

Còn nhớ, có lần về An Giang, dọc theo quốc lộ 91 mùa nước nổi, bên này đường là dòng sông Hậu đục ngầu cuồn cuộn nước về, bên kia đường là mênh mênh mang mang những cánh đồng ngập nước, tôi gặp mấy cô bé học trò ở ngoại vi thị xã Châu Đốc đi học, thong thả chèo xuồng dọc theo những lùm tràm gió đã bị nước nhấn chìm tới lưng lửng thân. Tiếng nói, tiếng cười của các em vang vang trên đồng trũng không biết đâu là bờ.
Dulichgo
Khác với nhiều nơi khác, ở miền Tây, nữ sinh mặc áo dài rất sớm. Có nhiều trường bắt đầu từ lớp 6 các em đã phải mặc áo dài. Nhìn những đôi mắt to tròn, những gương mặt thơ ngây và những tà áo dài in bóng trắng mặt nước, lòng tôi nao nao không biết gọi "phương tiện giao thông" mà các em đang dùng là loại tàu nào. Tàu đò thì chưa phải, mà đò ngang cũng không đúng, vì nó đâu có nối đôi bờ...

Trước đây, do đường bộ còn ít, nước ngập nhiều, ở miệt châu thổ, tàu đò rất phổ biến. Đi chợ xa, đi thăm viếng bà con ở xa, đi đám xa (đám cưới, đám hỏi, đám giỗ, đám ma, dân Nam bộ đều gọi là... đám), ai cũng sử dụng tàu đò. Một vài tuyến tàu đò còn tồn tại là Cần Thơ đi Kiên Giang, Thạnh Hóa đi Mộc Hóa, Vĩnh Hưng, Đức Hòa (Long An)... với lộ trình vài chục kilômét.

Tôi từng một lần đi tàu đò từ Tân Thạnh vào trung tâm Đồng Tháp Mười. Ở đó, chỉ có một tuyến đường rất khó đi vào mùa khô, càng không chạy xe được vào mùa mưa thì phương pháp di chuyển phổ biến vẫn là tàu đò. Khách đi tàu đò cũng không nhiều, hầu hết là những nông dân sinh sống trong vùng rốn Đồng Tháp Mười, mang tôm cá, sản vật ra quốc lộ 62 bán rồi mua những thứ cần thiết như quần áo, muối, đường, nước mắm...

Theo anh Sáu - chủ chiếc tàu đò, bao năm qua, bất kể mưa nắng, chưa khi nào anh nghỉ một ngày, phần vì thu nhập của gia đình, phần vì hành khách, mà toàn khách quen, nếu mình bỏ chuyến thì họ lỡ công chuyện. Và chắc rằng không riêng gì vùng Đồng Tháp Mười, nhiều địa phương khác ở miền Tây, nơi kênh rạch chằng chịt thì đi tàu đò vẫn rất tiện lợi, dù ngày nay nhiều tuyến đường đã được mở.
Dulichgo
Riêng tôi, khách đi tàu đò lần đầu 10 năm trước suốt tuyến từ bến Mồi Gọ trên dòng Vàm Cỏ Tây vào đến bến cuối giáp biên giới Campuchia, đến giờ vẫn cảm giác chông chênh sóng nước.

Có lần ngồi uống cà phê ở Ngã ba Tân Hồng, tôi hình dung, trước khi có đường bộ ở vùng đất này, người ta di chuyển bằng phương tiện gì nếu không phải là những con đò dọc. Và thực tế thì dù có đường nhưng theo thói quen, người dân vẫn thích di chuyển bằng tàu đò hơn đi xe. Nó cũng là nét văn hóa của những vùng đất còn chút hoang sơ, mênh mông mỗi khi mùa nước về.

Theo bác Cháy - chủ quán nước ở Ngã ba Tân Hồng, nhiều người sử dụng tàu đò bởi nó đi được vào những nơi mà xe đò không đến được, có khi đi sông gần hơn đi lộ vì đường tắt. Đến mùa cắt lúa mướn, thuê ruộng giăng lưới, bủa câu mùa nước nổi, người ta đều có thể sử dụng tàu đò.

Ngồi cùng những người dân miệt vườn nghe kể về tàu đò, tôi nhận ra dường như đò dọc chính là khởi nguyên, là bắt đầu của nhiều nghề ở đây. Như thương hồ chẳng hạn. Cũng từ những chuyến tàu đò, nghề thương hồ - một đặc trưng miền sông nước - xuất hiện, trở thành một biểu tượng văn hóa của vùng đất này. Rồi những ghe thuyền chở nông sản, hàng hóa cũng vậy, cũng từ những chuyến tàu đò mà ra.

Chị Lam - một người buôn lúa ở Vĩnh Hưng, Mộc Hóa, cho biết, đến mùa thu hoạch lúa, ngày nào chị cũng sử dụng tàu đò để đến một vùng nào đó rồi thuê vỏ lãi theo các con kênh đi vào những cánh đồng xa mua lúa. Những nơi đó hầu như chưa có đường bộ, nên nếu không sử dụng tàu đò thì không còn cách nào đến được.
Dulichgo
Rồi những người buôn cừ tràm ở Ngã ba Thạnh Hóa cũng vậy, từ tàu đò họ vào những cánh đồng tràm nhiều ngày để mua mão rồi mới thuê ghe theo những con kênh chở tràm đi bỏ mối. Có thể nói, với đặc điểm tự nhiên cùng tập quán nên tàu đò vẫn là nhu cầu không thể thiếu, chiếm một phần quan trọng trong đời sống của người dân Đồng bằng sông Cửu Long.

Theo Đoàn Đại Trí (Doanh Nhân SG)
Du lịch, GO!

Thứ Hai, 23 tháng 11, 2015

"Chợ đẩy" dọc sông Tiền

(DNSG) - Suốt chiều dài hàng trăm cây số từ vùng thượng nguồn An Phú cho tới Tân Châu, kéo dài qua Phú Tân, Chợ Mới trên địa bàn tỉnh An Giang, dọc tuyến tỉnh lộ 954 men theo bờ Nam của dòng sông Tiền thơ mộng, chúng tôi đã gặp hàng trăm cái "chợ đẩy" nho nhỏ ngược xuôi.

< "Chợ đẩy" hầu như chỉ xuất hiện ở vùng An Giang.

Và không chỉ là nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm cùng các nhu yếu phẩm khác, "chợ đẩy" dường như còn là một nét văn hóa riêng biệt của người dân vùng sông nước này.

Lặng lẽ bên đời

< "Chợ đẩy" thực sự là nhu cầu thiết yếu của người dân trong vùng.

"Chợ đẩy" (hay còn gọi là chợ di động) thực chất là những chiếc xe chở đầy hàng hóa như rau, củ, quả, thịt, cá, hoặc quần áo, đồ nhựa, đồ gia dụng bằng inox..., được các chủ hàng đẩy đi bán dọc các con đường. Những chiếc xe ấy thường được làm bằng gỗ, thiết kế đơn giản, có hai bánh và giá đỡ, chứa được khá nhiều đồ.
Dulichgo
Trò chuyện với chúng tôi, chị Hạnh, một trong số những người buôn bán bằng xe đẩy, cho biết: "Tôi ở bên Mỹ Hội Đông (huyện Chợ Mới) nhưng thường đẩy xe sang bên này buôn bán. Hằng ngày hai vợ chồng dậy sớm, xuống dưới Kiến An lấy hàng chất lên xe, rồi đẩy đi bán dọc đường.

< Thịt heo, mặt hàng khá được ưa chuộng.

Do ở vùng này người dân sống rải rác, chỉ tập trung quanh con đường 954 dọc sông Tiền, trong khi các khu chợ cố định lại ở xa nên họ thích mua hàng ở các "chợ đẩy" hơn. Dù công việc khá vất vả, có khi phải đi bộ đẩy xe hàng chục cây số một ngày, nhưng lời lãi cũng chẳng bao nhiêu, chỉ đủ đắp đổi qua ngày".

Bên cạnh những xe đẩy bán rau, củ, quả thông dụng như của chị Hạnh còn có những xe đẩy bán thịt heo, cá hay quần áo, chén bát. Với người dân vùng thượng nguồn sông Tiền, những loại hàng hóa này được cho là "quý hiếm".

< Một "ki ốt" bách hóa tổng hợp.

Chị Tân, một chủ xe đẩy thịt heo, kể mỗi ngày chị phải dậy từ 2 giờ sáng, chạy xe máy xuống tận lò mổ heo ở Châu Đốc để lấy thịt về bán. Tuy bán cả ngày cũng chỉ được khoảng 14 - 16 ký lô thịt, chẳng bõ công thức khuya dậy sớm nhưng do đã gắn bó với nghề gần cả chục năm và cũng có nhiều khách quen, nhiều mối hàng nên chị thấy tiếc nếu phải bỏ nghề.

Không giống như những người bán hàng rong thường cất tiếng rao để giới thiệu sản phẩm mình bán, những người chủ "chợ đẩy" bên sông Tiền chỉ cần mẫn đẩy xe đi trong im lặng. Họ lặng lẽ đi bên lề cuộc đời, yên bình giữa dòng người, xe như một khoảng lặng.

< Lặng lẽ giữa dòng đời xuôi ngược.
Dulichgo
Có lẽ, chỉ khi chứng kiến những người phụ nữ, trẻ con túm tụm bên "chợ đẩy", cười nói và "giao dịch" với nhau mới cảm nhận rõ ràng nét đẹp mộc mạc cũng như sự thân thuộc của "chợ đẩy" với người dân nơi đây.

Bà Tám Hồng ở Vĩnh Hòa (An Phú) cho biết, nhà bà ở cách chợ cố định tới hơn 10 cây số, đi từ nhà ra chợ có khi mất cả tiếng đồng hồ, nên không thể đi chợ hằng ngày. Vì thế, những cái "chợ đẩy" này thực sự tiện dụng và hữu ích, đáp ứng được nhu cầu của mọi người nơi đây. Dù chỉ là một chiếc xe nhỏ bé nhưng có đủ cả thực phẩm dùng hằng ngày.

< Đối với các cụ già không thể qua đường mua, chủ chợ thường tận tình qua đường giao hàng tận tay khách.

Chưa kể, người mua cần món hàng gì mà hôm nay "chợ" không có, chỉ cần dặn người bán, hôm sau họ sẽ đáp ứng ngay. Cả những hộ dân sinh sống ở những cụm dân cư phía trong đường lộ cũng thường đợi "chợ đẩy" đi qua để mua bán, trao đổi hàng hóa khi cần.

Nét đẹp nơi thượng nguồn

Thực tế, trong công cuộc hiện đại hóa đất nước, đã có rất nhiều trung tâm thương mại, siêu thị hiện đại xuất hiện ở Châu Đốc, Long Xuyên hay Tân Châu, nhưng chắc chắn không gì có thể thay thế những cái "chợ đẩy" nhỏ bé, cần mẫn như đến từ quá khứ này được.

< Những đồng tiền khó nhọc sau một ngày buôn bán.
Dulichgo
Nó như một phần cuộc sống của người dân miền sông nước, đặc trưng của nó là sự thân thiện, gần gũi. Ở đó không chỉ có những lần bán mua, mặc cả, ngã giá, mà còn chứa đựng tình người, nét mộc mạc, đơn sơ của đất và người nơi đây.

Có một điều lạ là dòng sông Tiền đi qua khá nhiều địa phương, từ An Giang cho tới Đồng Tháp, Vĩnh Long, Tiền Giang, Bến Tre, nhưng "chợ đẩy" lại chỉ xuất hiện ở vùng thượng nguồn phía An Giang mà thôi. Và ngay cả phía bờ Bắc đối diện tỉnh lộ 954, bên địa phận Đồng Tháp cũng không thấy xuất hiện "chợ đẩy".

< Hàng quần áo.

Với nhiều người dân trong vùng, "chợ đẩy" đã rất thân quen, dường như cuộc sống của họ không thể thiếu nó. Nhưng với những ai lần đầu đặt chân tới dải đất nằm phía thượng nguồn sông Tiền này, đó là điều khá lạ lùng. "Chợ đẩy" thực ra cũng không có gì đặc biệt nhưng lại làm người ta nhớ mãi.

Như ai đó từng nói, nếu muốn biết văn hóa đặc trưng của cộng đồng dân cư ở một vùng đất, hãy đến khu chợ của vùng đất đó tìm hiểu. Và quả là muốn hiểu đầy đủ tính cách, văn hóa cũng như thói quen hay nếp sống của cư dân vùng thượng nguồn sông Tiền ở An Giang thì không thể bỏ qua những chiếc "chợ đẩy".

Những mặt hàng mộc mạc, thân quen trên những chiếc "chợ đẩy" sẽ là những nét phác họa vùng đất chúng hiện diện. Chẳng hạn như mùa khô thì "chợ đẩy" bán bầu, bí, dưa hấu, dưa hoàng kim, hay cải ngồng, cải bẹ; còn mùa mưa, là mùa nước nổi tràn về thì không thể thiếu bông điên điển, bông súng, bông sen...
Dulichgo
Rồi những "chợ đẩy" bán vải vóc, thẻ cào điện thoại, nước giải khát... cũng là một phần hơi thở của cuộc sống, của sự đổi thay tất yếu bên cạnh những điều đẹp đẽ được gìn giữ từ lâu.

Và điều kỳ lạ nữa là chính người dân ở vùng này cũng không biết "chợ đẩy" có từ khi nào, chỉ biết lúc đầu rải rác vài cái đẩy loanh quanh, rồi khi nhu cầu mua bán tăng lên, "chợ đẩy" xuất hiện nhiều hơn, đa dạng về mặt hàng và giá cả.

Đến nay, "chợ đẩy" xuất hiện nhiều đến nỗi những khu chợ cố định ngày càng vắng khách và người ta mặc nhiên coi "chợ đẩy" là "đặc sản" của vùng đất này.

Theo Đoàn Đại Trí (Doanh Nhân Sàigòn)
Du lịch, GO!

Thứ Bảy, 14 tháng 11, 2015

Tam giác mạch: 'thần chú' của cao nguyên đá - K3

(Tiếp theo) - Bánh, rượu, trà... và câu chuyện tương lai!

Cùng với rượu tam giác mạch thơm lừng, bánh làm từ tam giác mạch ở Đồng Văn cũng đang mang hình hài mới rất bắt mắt, thơm ngon có vị riêng...

Khệ nệ nhấc cái nắp vung bằng inox đang chụp lên cái nồi to đùng có đường kính gần... 2m, Dào Văn Hò nói với chúng tôi: “Các anh tới muộn tí nữa, nước bắt đầu sôi thì sẽ không thấy rượu tam giác mạch được nấu thế nào đâu”.
Dào Văn Hò hiện đang là chủ của lò rượu tam giác mạch mang tên Thiên Hương ở Đồng Văn.

Thơm nồng vị rượu...

Lúc sáng, khi hỏi chủ quán tạp hóa ở thị trấn định mua loại rượu tam giác mạch này về làm quà, chủ quán bảo: “Hết rồi anh ạ, ít hôm nữa mới có”.

Hỏi đường về cơ sở nấu loại rượu này, tiện thể thắc mắc sao khách sạn tên Thiên Hương mà rượu tam giác mạch Đồng Văn này cũng tên Thiên Hương, chị chủ quán bảo: “Là hai chị em mình cả đấy”.

Lò rượu mà Dào Văn Hò đang nấu thuần từ hạt tam giác mạch, không hề pha chế. Cao nguyên đá xưa nay vốn trứ danh với rượu ngô men lá, nhưng ở vài nơi khi nấu rượu ngô, để rượu có vị thơm hơn, người ta trộn thêm tam giác mạch vào để nấu, vừa có vị nồng đượm của ngô lại có thêm vị thơm ngọt của tam giác mạch như rượu ở Cốc Pài.

Còn để nếm loại rượu nấu từ 100% nguyên liệu tam giác mạch thì đây là lần đầu chúng tôi được nếm. Nồi rượu ở cơ sở của Dào Văn Hò có dung tích chứa đến 5 tạ hạt tam giác mạch.

“Mọi năm em chỉ nấu vài nồi là hết sạch hạt mạch của dân, phải đi mua ở nơi khác. Năm nay vì huyện tổ chức lễ hội nên em phải thu mua nguyên liệu từ trong dân tích trữ từ đầu năm, hai tháng nay nấu được chừng mươi nồi, mỗi nồi hết nửa tấn tam giác mạch, tính ra được 200 lít rượu, đóng được hơn 400 chai, mà khách lên đây cuối tuần hơn 1 vạn người...”.

Loại rượu tam giác mạch ở cơ sở của Dào Văn Hò đóng chai 400cl, giá bán 100.000 đồng một chai, tính ra thì có lãi nhưng theo Hò không lãi bằng nấu rượu ngô, vì giá tam giác mạch đắt gấp năm lần so với ngô.

Rót mời chúng tôi mấy chung rượu tam giác mạch “tươi nguyên” ngay tại lò rượu, dân đã quen với rượu ngô cao nguyên đá sẽ thấy rượu tam giác mạch không “đượm” bằng song vị rượu lại thơm. Nói gì thì nói, cũng có nhiều lời kẻ khen người chê, nhưng việc cho ra mắt một sản phẩm “cây nhà lá vườn” phục vụ cho du lịch và làm tăng giá trị cho cây tam giác mạch là điều đáng mừng.

Và có lẽ do lò rượu tam giác mạch của Dào Văn Hò sản xuất đại trà nên bị cái khí vị công nghiệp che mất ít nhiều hương vị non cao riêng có của nó.

Hôm sau đó, khi được một “thổ công” cao nguyên đá mời nếm một loại rượu tam giác mạch được nấu tại một lò rượu thủ công ở bản giáp biên giới xã Phố Là, quả thật vị rượu tam giác mạch thủ công mà anh bạn cất công mang về từ Phố Là ấy đủ sức đưa “kiều mạch tửu” này lên ngang hàng với bất cứ một danh tửu nào trên rẻo cao Tây Bắc, Đông Bắc này!

Rót ra cốc, mùi tam giác mạch thơm lừng, vị lại đượm. Hỏi tìm mua nhưng người bạn bảo chủ lò này chỉ nấu để dành cho gia đình, khách thật quý thì tặng một ít. Nếu bán cũng rất hi hữu với giá hơn 250.000 đồng/lít.

Dù loại này hiếm nhưng nếu bí quyết nấu rượu tam giác mạch theo cách ở Phố Là này được phát triển, đúng kiểu thủ công cổ truyền, dù không đủ cung cấp cho thị trường du khách nhưng có lẽ nên được giới thiệu để khách biết thêm về danh tửu lâu nay ẩn dật chốn thâm sơn cùng cốc này.

Hoa ngon mùi... bánh

Cùng với rượu tam giác mạch, bánh làm từ tam giác mạch ở Đồng Văn cũng đang mang một hình hài mới rất bắt mắt. Hỏi ra mới hay đây là sản phẩm của Hợp tác xã (HTX) Bắc Nam, một HTX ban đầu chỉ kinh doanh vận tải, mới bắt đầu bước vào lĩnh vực bánh kẹo chưa đầy một năm nay.

Ông Phạm Ngọc Dự, chủ nhiệm HTX, vừa sắp xếp những chủng loại bánh làm từ tam giác mạch lên bàn để giới thiệu với khách, vừa kê khai “lý lịch” từng loại bánh.

Tháng 11 năm ngoái, khi thấy “đầu ra” từ sản lượng thu hoạch từ hơn 50ha hạt tam giác mạch mà bà con gieo trồng trong huyện đang có nguy cơ tắc nghẽn, huyện đã cử một đoàn đi về Thái Bình tham quan dây chuyền sản xuất bánh từ các làng nghề ở Đông Hưng, nhất là làng nghề bánh cáy.

Nếu bánh người ta làm từ bột mì bột gạo thì mình cũng có thể làm bánh từ tam giác mạch chứ sao? Vậy rồi anh em trong ban chủ nhiệm HTX xay giã giần sàng ra được hơn một tạ bột, mang về tận Đông Hưng (Thái Bình) nhờ dây chuyền sản xuất bánh ở đấy làm thử nghiệm hai loại: bánh tam giác mạch giòn và bánh tam giác mạch dẻo.

May sao chất lượng của hai loại bánh được cho là ngon, thơm, có vị riêng, có thể sản xuất dây chuyền, nếu sản lượng hạt tam giác mạch lớn thì có thể đảm bảo được đầu vào nguyên liệu, còn đầu ra thì yên tâm, trước mắt phục vụ du khách trên địa bàn đã chưa đủ, sau này hẵng tính chuyện vươn ra các tỉnh bạn.

Chúng tôi đã nếm thử hai loại bánh giòn và bánh dẻo, cùng với bức ảnh hoa tam giác mạch rực rỡ quyến rũ được thiết kế trên bao bì bắt mắt nên chiếc bánh có vẻ ngon hơn so với những loại bánh làm bằng nguyên liệu bình thường. Đặc biệt, bánh dẻo có phần ngon hơn nhiều so với bánh giòn.

Trong xưởng bánh của HTX Bắc Nam, mấy anh thợ người Thái Bình lên đang đứng dây chuyền sản xuất bánh, còn những người thợ “lao động phổ thông” đang xay hạt tam giác mạch từ chiếc máy như máy xát lúa, vỏ hạt được tách ra nhờ quạt gió, chảy vào thúng là những hạt mạch đã được bóc sạch vỏ.

Chị Mẩy - một phụ nữ Mông - giần sàng cho sạch rồi cho số hạt mạch đã được xát vỏ làm sạch này vào máy xay. Những khay bột xay được Thủy, một thợ làm bánh, cho vào máy sấy, pha chế thêm đường, dầu ăn, hạt vừng... để ra hỗn hợp trước khi cho vào khuôn bánh.

Chủ nhiệm Dự bảo: “Sắp tới, dịp lễ hội chúng tôi sẽ có thêm ba loại bánh nữa là bánh quy tam giác mạch, bánh quế tam giác mạch và bánh cốm nếp. Với công suất sản xuất và tiêu thụ như hiện nay thì sản xuất không đủ bán!”.

Cũng tránh tình trạng chặt chém khách, giá bánh được in ngay trên bao bì, cả hai loại bánh giòn và bánh dẻo đều cùng giá 35.000 đồng/hộp, các đại lý ở thị trấn chỉ bán đúng giá đó, các chủ tiệm cam kết bán đúng 35.000 đồng, bán hơn 1 đồng cũng không được!

“Thế có khi nào vì thiếu nguyên liệu tam giác mạch mà thay bằng bột khác không?”.
“Nếu làm thế thì tự chúng tôi giết chúng tôi vì bánh đó chỉ chúng tôi sản xuất, tiêu thụ, mà số lượng nguyên liệu cũng chưa đáp ứng yêu cầu sản xuất, chúng tôi cũng về tận xã cam kết bao tiêu sản phẩm với dân bản, có vậy dân mới nghe theo chủ trương của huyện trồng nhiều như thế.

Nhưng thật ra 300ha nguyên liệu cũng chưa đủ sản xuất bánh, huống nữa nay trên địa bàn có cả sản xuất rượu, nhu cầu tiêu thụ nguyên liệu rất cao.

Mà trồng tam giác mạch đâu chỉ sản xuất bánh, đã có thêm một vài sản phẩm khác được sản xuất từ tam giác mạch như trà tam giác mạch, mì tam giác mạch...”.

Vậy là không nghi ngờ gì nữa, cả cao nguyên đá vốn là thách thức cho bất cứ loại cây trồng nào không ngờ có một ngày cây rau nuôi lợn lại mang đến những hứa hẹn tương lai một cách cụ thể như thế, trong vị rượu thơm nồng, vị bánh ngon ngọt.

Còn tiếp
Kỳ 1 - Kỳ 2 - Kỳ 3 - Kỳ 4 - Kỳ cuối

Theo Lê Đức Dục, Đức Bình (Báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!

Chủ Nhật, 8 tháng 11, 2015

Tục ăn trầu của người Hà Nội

Người Hà Nội vốn nổi tiếng sành ăn, sành mặc. Hà Nội là nơi chắt lọc những tinh hoa, nét đẹp của mọi miền để tạo nên nét đẹp cho riêng mình. Nét đẹp của Hà Nội thể hiện ngay cả trong tục dùng trầu - một phong tục mà theo truyền thuyết có từ thời Hùng Vương dựng nước (qua sự tích Trầu Cau mà người Việt Nam hầu như ai cũng biết).

Người Hà Nội xưa, phổ biến từ 13 tuổi trở lên là biết ăn trầu. Theo sứ giả nhà Nguyên vào đời Trần, ở Thăng Long, 61 phố phường đều trồng rất nhiều cau và trầu không. Người Hà Nội trước đây có câu:
"Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu,
Mua cau Nam Phố, mua trầu chợ Dinh".

Chợ Cầu, chợ Quán là các chợ lẻ, chợ phụ dọc đường, Nam Phố là tên cũ của phố Hàng Bè bây giờ, nơi xưa bán rất nhiều cau tươi, cau khô. Chợ Dinh gần dinh quan phủ Phụng Thiên (quãng phố Phủ Doãn và Ngõ Huyện bây giờ). Ngày nay, người Hà Nội ít ăn trầu hơn trước nên không còn những phố bán trầu mà tập trung phần lớn ở những chợ một số ít được đem bán rong.

Người Hà Nội rất công phu trong cách chọn trầu. Cau ngon phải là cau bánh tẻ, không già, không non, vừa tới hạt (nửa màu, nửa hạt). Người sành ăn thường kén mua cau Đông ở tỉnh Hải Hưng (cũ). Từ tháng 8 có thêm cau miền Nam nhưng người ta ít ăn vì loại cau này nhiều hạt không ngon. Mua trầu phải chọn lá hơi ánh vàng, nhỏ, dày, tươi.
Dulichgo
Ngày trước có trầu không làng Chả ngon nổi tiếng vì lá nhỏ, vừa thơm vừa cay, để có được lá trầu như vậy người làng Chả ngày đó trồng trầu cũng rất công phu, dàn trầu không phải được trồng trên đất trồng gừng. Ngày nay người Hà Nội ăn trầu Hưng Yên, vào dịp lễ hỏi người ta mua trầu Tây Sơn vì lá to đẹp. Người sành ăn trầu chọn vôi xứ Đoài - Sơn Tây.

Bộ đồ ăn trầu của người Hà Nội gồm có: cơi đựng trầu bằng đồng hoặc quả trầu sơn khảm xà cừ, ống vôi chạm bạc, ống nhổ bằng đồng thau đựng quết trầu. Những cụ già ăn trầu còn có thêm cối giã trầu bằng đồng chạm trổ khá tinh vi chỉ bỏ vừa miếng trầu, miếng cau, vỏ để giã. Dao bổ cau phải sắc để bổ cau cho đẹp và hạt không bị vỡ.

Cũng chỉ là "Quả cau nho nhỏ, lá trầu xanh" nhưng cách ăn trầu của người Hà Nội rất duyên dáng, họ ăn trầu không những làm đỏ môi, răng đen mà còn tạo nét môi cắn chỉ rất đẹp, Người ta không cho cả cau, trầu và rễ vào cùng một lúc mà ăn từng thứ một. Cau được nhai dập mới cho trầu vào và sau cùng là rễ quệt thêm một ít vôi, khi ăn người ta thường lấy tay quệt ngang miệng, lâu dần tạo thành nét môi cắn chỉ.

Người xưa ăn trầu còn là để bảo vệ hàm răng của mình, chất chát của trầu cau làm cho lợi răng co lại ôm sát lấy chân răng, làm hàm răng cứng chặt lại không lung lay. Còn trong y học cổ truyền người Việt Nam xưa đã dùng trầu cau như một thứ thuốc chống bệnh sốt rét rừng một khi vào rừng sâu săn bắn hoặc xuống biển mò ngọc trai, săn bắt đồi mồi...
Dulichgo
Người Hà Nội nói riêng và người Việt Nam nói chung xưa kia coi việc têm trầu là một nghệ thuật. Qua cử chỉ têm trầu, ăn trầu để phán đoán phong cách, tính nết cũng như nếp sống của con người. Chính vì lẽ đó, khi đi xem mặt nàng dâu tương lai, nhà trai đòi bằng được cô gái ra têm trầu, trước là để xem mặt cô dâu, sau là để xem cử chỉ têm trầu của cô gái mà phán đoán tính nết. Miếng trầu têm vụng về là người không khéo tay; miếng trầu nhỏ miếng cau to là người không biết tính toán làm ăn; miếng trầu quệt nhiều vôi là người hoang phí không biết lo xa...

Ngày nay, ở Hà Nội hầu như chỉ những người trên 60 tuổi mới ăn trầu cho nên Hà Nội không còn cảnh mời trầu như A.de Rovodes - một người Pháp nói về việc ăn trầu của người Thăng Long thế kỷ XII: "Họ có tục đem theo một vài túi con đầy trầu cau đeo ở thắt lưng, họ để mở trong khi qua lại phố phường để mời bạn bè. Khi gặp họ bắt đầu chào hỏi nhau, rồi mỗi người lấy ở trong túi của bạn một miếng trầu để ăn". Tuy nhiên, quan niệm "miếng trầu là đầu câu chuyện" của người Hà Nội nói riêng và người ViệtNam nói chung vẫn được áp dụng ở những dịp hiếu, hỉ. Ngày Rằm, mồng Một hoặc các ngày lễ Tết hoặc trong những dịp lễ ăn hỏi, cưới xin của các gia đình Việt Nam vẫn không thể thiếu miếng trầu quả cau trên bàn thờ tổ tiên.

Trầu cau chỉ là một thứ nhai chơi, tuy đơn sơ nhưng lại có nhiều ý nghĩa trên lĩnh vực y học, tâm lý xã hội... dùng trầu cau còn là một truyền thống văn hoá của dân tộc. Ngày nay, không mấy ai ăn trầu nhưng nét đẹp đó vẫn được gìn giữ và áp dụng trong cuộc sống của người dân.

Theo Thanglong.cinet
Du lịch, GO!