Hiển thị các bài đăng có nhãn Xem cho biết. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Xem cho biết. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 8 tháng 12, 2015

VN sắp đón mưa sao băng lớn nhất năm

(VNE) - Đêm 14, rạng sáng 15/12, người dân Việt Nam sẽ có cơ hội quan sát Geminids - trận mưa sao băng lớn nhất năm với tần suất cực điểm lên đến 100 vệt mỗi giờ. 

Mưa sao băng Geminids thường xuất hiện hàng năm vào khoảng 4-17/12. Theo dự báo của Tổ chức sao băng quốc tế (IMO), cực điểm của trận mưa sao băng năm nay diễn ra khoảng 18h UTC ngày 14/12, tức 1h sáng 15/12 theo giờ Việt Nam.

"Thời điểm quan sát tốt nhất ở Việt Nam là vào đêm 14, rạng sáng 15/12 với tần suất từ 50 đến 100 vệt mỗi giờ. Trong điều kiện quan sát lý tưởng có thể lên đến 120 vệt mỗi giờ", anh Đặng Tuấn Duy, câu lạc bộ thiên văn nghiệp dư TP HCM cho biết.

Tâm điểm của trận mưa sao băng là chòm Song Tử - Gemini. Chòm sao này mọc dần từ hướng đông vào khoảng 20h và lên cao dần khi đến gần sáng.

Theo anh Duy, người xem có thể bắt đầu quan sát từ khoảng 22h khi tâm điểm đã lên khá cao cho tới rạng sáng. "Năm nay mặt trăng lặn dần ở chân trời tây khi trời tối để lại bầu trời đủ tối cho việc quan sát các vệt sao băng", anh Duy nói.

Geminids luôn đứng đầu các trận mưa sao băng của năm bởi độ rực rỡ cũng như tần suất. Nó có nguồn gốc từ vật thể 3.200 Phaethon. Các nhà khoa học tin rằng vật thể này chính là phần nhân của một sao chổi nào đó còn sót lại sau những cuộc hành trình và bị gió mặt trời thổi hết lớp đá băng bên ngoài. 3.200 Phaethon trong quá khứ di chuyển cắt ngang qua quỹ đạo của trái đất và để lại một dải đá bụi.

Để quan sát mưa sao băng lớn nhất năm, các chuyên gia khuyên, người xem chỉ cần dùng mắt thường. Cực điểm diễn ra là trong mùa đông nên người quan sát cũng nên chuẩn bị đầy đủ quần áo ấm, chọn vị trí trống trải, tránh các tòa nhà cao tầng. Bên cạnh đó, người xem cần tránh ánh sáng từ thành phố, hãy kiên nhẫn và bao quát tầm nhìn.

Theo Vnexpress
Du lịch, GO!

Thứ Hai, 7 tháng 12, 2015

Hai hang động mới ở Bái Tử Long

(TTO) - Với vẻ đẹp lộng lẫy, kỳ bí, hai hang động mới ở Hòn Phất Cờ (vịnh Bái Tử Long) vừa được công bố rộng rãi khiến bất kỳ du khách nào đặt chân vào đây cũng không muốn dời bước.

< Ông Nguyễn Sỹ Bính - người phát hiện hang động này cách đây 3 năm - nhìn về phía cửa hang. Hiện tại ông Bính vẫn chưa tìm được một cái tên phù hợp để đặt tên cho hang động này.

Cùng với thông tin về việc phát hiện thêm 23 hang động mới tuyệt đẹp ở vịnh Hạ Long, những ngày đầu tháng 12 này, ngư dân Nguyễn Sỹ Bính (thôn 5, xã Hạ Long, huyện Vân Đồn, cách TP Hạ Long khoảng 50km) cũng lần đầu tiên tiết lộ thông tin về hệ thống hai hang động mới mà ông đã phát hiện ở vịnh Bái Tử Long, thuộc phạm vi vịnh Hạ Long.

< Nhũ đá hay thạch nhũ được hình thành do cặn của nước nhỏ giọt đọng lại trải qua hàng trăm, nghìn năm. Nó là khoáng vật hang động thứ sinh treo trên trần hay tường của các hang động.

Qua giới thiệu và thuyết phục của người quen, ông Bính đồng ý đưa canô vào bờ để đón chúng tôi ra vịnh, đến Hòn Phất Cờ để có dịp chiêm ngưỡng vẻ đẹp của các hang động này.

Chăn dê, 
phát hiện hang động
Dulichgo
Từ đất liền ra đến Hòn Phất Cờ không đến 10 phút bằng canô cao tốc, nhưng giữa những ngọn núi nhỏ nhô lên trên vịnh, nếu không có người dẫn đường như ông Bính, chúng tôi không thể tin phía trong những ngọn núi nhỏ kia là những hang động cực lớn.

< Những nhũ đá khổng lồ xếp lên nhau khiến nhóm phóng viên cảm thấy rất bất ngờ.

“Vợ chồng tôi phát hiện hang này từ hơn ba năm nay nhưng mãi đến tuần trước mới đưa một nhóm người đầu tiên của một công ty du lịch cùng mấy người ở Phòng Văn hóa huyện Vân Đồn đi. Giờ đoàn các anh là nhóm thứ hai tôi đưa lên hang” - ông Bính cho biết.

Đường lên hang men theo các gờ, hốc đá nhưng đi khá dễ bởi đã được ông Bính cải tạo bằng các bậc ximăng. Có những đoạn cheo leo bám bên rìa vách núi thì có “cầu sắt” được hàn, chằng buộc khá chắc chắn.

< Những nhũ đá nhọn từ trần hang đâm tua tủa xuống mặt đất.

Là nhân viên của một công ty du lịch trên địa bàn, gần chục năm trước vợ chồng ông được công ty giao nhiệm vụ ra ngoài vịnh nuôi trồng thủy sản nhằm cung cấp thực phẩm cho công ty để phục vụ khách du lịch. Ngoài nuôi trồng thủy sản, vợ chồng ông Bính còn mua dê và cả tắc kè để thả lên núi kiếm thêm thu nhập.

Và hơn ba năm trước, trong khi chăn thả dê trên các triền núi, ông Bính đã phát hiện trong lòng Hòn Phất Cờ là hệ thống hai hang động riêng biệt, với ba cửa hang ở ba hướng khác nhau (hướng đông nam, đông bắc và ở chính giữa).

< Măng đá và nhũ đá kết lại với nhau tạo thành những cột đá phía trong hang động, quá trình kiến tạo này có thể kéo dài hàng nghìn năm.
Dulichgo
Thấy vẻ đẹp “như thiên cung, tiên cảnh” của hang động, vợ chồng ông đã báo cáo công ty và được đầu tư khoảng 200 triệu đồng để làm nhà nghỉ tranh tre, mái cọ bên bãi tắm mini ngay dưới chân Hòn Phất Cờ. Tuy nhiên, chưa kịp đưa vào hoạt động, một trận bão đã “thổi bay” cơ ngơi và dập tắt ý tưởng kinh doanh của ông...

“Tháng 8 vừa qua, khi tham dự Đại hội thi đua yêu nước của tỉnh, tôi được đưa đi thăm vịnh Hạ Long và đến động Thiên Cung. Động này cũng đẹp, mọi người sững sờ trước vẻ đẹp của hang động, còn tôi thầm cười: động này chưa là gì so với vẻ đẹp, sự nguy nga của các hang động mà tôi đã phát hiện ở Hòn Phất Cờ” - ông kể.

< Ngay cạnh cửa hang, là một tầng vỏ ốc hóa thạch vốn thường tìm thấy trong các di tích khảo cổ, phát hiện này có giá trị rất lớn về địa chất, địa mạo và lịch sử hình thành vịnh Bái Tử Long.

Trở về, ông lại trình bày với lãnh đạo công ty và lại được đầu tư 100 triệu đồng để làm hệ thống đường dẫn lên cửa hang, làm hàng rào và cửa sắt...
Trao đổi với Tuổi Trẻ, bà Phạm Thùy Dương, trưởng ban quản lý vịnh Hạ Long, cho biết hai hang động do ông Bính phát hiện là hai hang động mới, chưa được cơ quan chức năng biết đến, ban quản lý cũng chưa từng thực hiện đợt khảo sát và kiểm tra nào tại khu vực này.

“Chúng tôi sẽ xác định giá trị và tiềm năng của các hang động này xem phù hợp khai thác ở lĩnh vực nào rồi mới báo cáo UBND tỉnh. Có thể bổ sung các hang động này vào quy hoạch để phục vụ công tác bảo tồn và phát huy giá trị hang động” - bà Dương nói.

< Những khối đá màu xanh lục bảo phía trong hang động.


“Thiên cung, tiên cảnh...”

Khác với những hang động mà chúng tôi từng có dịp khám phá, cửa hang của các động mới phát hiện này đều khá rộng và cách mặt nước vịnh cả trăm mét. Chúng tôi không phải mất công chui luồn bởi cửa vào hang đã có không gian rộng, thoáng, mái vòm cao. Thậm chí, hai bên cửa hang ở động giữa còn có hai cột nhũ đá lớn, thẳng tắp từ chân lên đến đỉnh vòm hang, nhìn y như hai trụ cổng làng.

Qua hai “trụ cổng” này là một không gian rộng đến gần 2.000m2, hang có vòm khá cao, phải đến 30m. Trong lòng hang là vô số nhũ đá với vô vàn hình dáng khác nhau.

< Một cột đá phía trong hang động.
Dulichgo
Nhiều nhũ đá từ mái vòm buông xuống như cánh tay nối dài và dù hang khô ráo nhưng ở mỗi đầu các thanh nhũ đều có những đụn nước đang dồn xuống, tích tụ thành giọt rồi lại nhỏ xuống nền hang, tạo nên những “mầm đá” to nhỏ khác nhau, được ông Bính gọi là “măng đá”.

“Còn nhiều hình, nhiều loại lắm, các anh xem có ý tưởng gì đặt tên giúp chứ tôi đặt tên mãi mà không thể hết” - ông Bính nói.

Vừa rọi đèn pin vào các thạch nhũ đa dạng hình dáng, ông Bính gọi tên nào là “phương trượng của Đường Tăng” (nhũ đá cao như bắp chân, nhưng phía trên đầu lại phình to, loe rộng như đầu rồng), rồi “gậy như ý Tôn Ngộ Không” (những thạch nhũ thẳng tắp), kia là quả chuông, con rùa, Phật Di Lặc, Bồ Tát, mẹ bồng con...

< Ở những nơi có ánh sáng, xuất hiện một số loại cây thuộc họ dương xỉ.

Hang động đầu tiên có cửa vào - cửa ra, nhưng ở hang động thứ hai bên cạnh chỉ có một lối vào và lối ra nhỏ hơn. Tuy nhiên phía trong hang này được ông Bính ví như “thiên cung, tiên cảnh” bởi vẻ đẹp lạ thường của thiên nhiên khi tạo nên những thạch nhũ đa dạng về hình dáng.

Phổ biến nhất trong lòng hang thứ hai này (rộng cũng đến cả ngàn mét vuông) là những thạch nhũ buông từ trên xuống như những bức rèm đá ngang với mặt người. Rồi những cột nhũ đá từ dưới đội lên, với rất nhiều trụ đá lớn mà đứng mỗi góc có thể mỗi người lại hình dung ra một dáng hình nào đó.

Trong hang này lại có nhiều “căn phòng vua chúa” bởi có những khoảng không nhỏ khoảng chục mét vuông được quây gần kín xung quanh bằng những rèm đá, thạch nhũ buông xuống.
Dulichgo
Rọi đèn pin lên trần, tùy độ cao thấp của vòm hang cùng ánh sáng mà người nhìn có thể cảm nhận có những màu vân đá xanh, xám khác nhau. Dưới nền hang thứ hai có nhiều chỗ dốc như bị nước chảy xói mòn, tạo thành những “ruộng bậc thang đá”, cũng có những chỗ nền đang lún sụt.

Đặc biệt, bên ngoài cửa hang này còn có những dấu tích chứa đựng các giá trị về địa chất, bởi ở chân những phiến đá cực lớn, nằm cách mặt nước gần 100m vẫn dễ dàng thấy các vỏ ốc hóa thạch gắn chặt vào phiến đá.

Nhiều hang có giá trị cao về khoa học và thẩm mỹ

< Từ ngoài cửa hang có thể ngắm nhìn một góc của vịnh Bái Tử Long. Do nằm trơ trọi giữa biển nên phải dùng thuyền để đến hang động này.

Bà Đỗ Thị Yến Ngọc - phó trưởng phòng kiến tạo địa mạo Viện Khoa học địa chất và khoáng sản (Bộ Tài nguyên - môi trường) - cho biết như vậy khi được hỏi về giá trị 23 hang mới được phát hiện ở vịnh Hạ Long. Theo bà Ngọc, ban quản lý (BQL) vịnh Hạ Long hiện đã có trong tay hồ sơ 36 hang, trong đó có một số hang đã khai thác và một số hang đã đóng cửa để bảo tồn.

“Trong chuyến khảo sát các hang động mới, do BQL vịnh Hạ Long phối hợp với viện chúng tôi, đã phát hiện được 23 hang, trong đó có 18 hang được đánh giá là có giá trị cao về mặt khoa học và thẩm mỹ, nhưng cần phải đầu tư thêm để nghiên cứu tiếp” - bà Ngọc khẳng định.
Theo bà Ngọc, đây đều là những hang có nguồn tiềm năng để khai thác du lịch, tới đây BQL vịnh Hạ Long sẽ xây dựng kế hoạch nghiên cứu để khai thác.

Theo báo Tuổi Trẻ
Du lịch, GO!

Chủ Nhật, 29 tháng 11, 2015

Từ tượng Hai Bà đến tượng Trần Hưng Đạo...

(TNO) - Tượng Trần Hưng Đạo ở công trường Mê Linh là minh chứng cho sự năng động của Sài Gòn và là chốn hẹn hò của đôi lứa ở bến Bạch Đằng nhìn ra sông Sài Gòn đầy thơ mộng.

< Tượng Trần Hưng Đạo trở thành nơi chứng minh cho sự năng động, phát triển của Sài Gòn.

Tượng Trần Hưng Đạo nằm ở công trường Mê Linh, quận 1. Thời Pháp thuộc, công trường này được đặt theo tên Đô đốc thủy quân người Pháp và từng là Thống đốc Nam Kỳ, Rigault de Genouilly. Ban đầu tượng của vị đô đốc thủy quân cũng được đặt nơi đây.

Thay thế tượng Hai Bà

< Ban đầu nơi đây đặt tượng đô đốc người Pháp Rigault de Genouilly.

Năm 1955, ngày lễ Hai Bà Trưng được công nhận là ngày lễ chính thức ở miền Nam. Tháng 3.1962, chính phủ Ngô Đình Điệm khánh thành tượng Hai Bà Trưng ở công trường Mê Linh để vinh danh Hai Bà. Người dân Sài Gòn lúc đó vẫn quen gọi là tượng Hai Bà. Tượng do kiến trúc sư Ngô Viết Thụ vẽ và điêu khắc Nguyễn Văn Thế thực hiện.

Tượng Hai Bà Trưng được dựng trên một bệ cao ba chân, phía trước là đầu và vòi voi, tiếp nữa là hai chân voi. Tượng được giới điêu khắc đánh giá rất đẹp, nét điêu khắc đặc sắc và mới mẻ. Khi khánh thành tượng này, bà Trần Lê Xuân - phu nhân của cố vấn Ngô Đình Nhu - với tư cách là chủ tịch của Hội Phụ nữ liên đới tới cắt băng khánh thành.

< Năm 1962, tượng Hai Bà Trưng được đặt ở đây.
Dulichgo
Tuy nhiên, do cách điêu khắc quá mới mẻ nên sau khi khánh thành, nhiều người dân Sài Gòn thấy tượng Hai Bà có nét phảng phất giống mẹ con bà Trần Lê Xuân. Nên sau khi chính quyền Ngô Đình Diệm sụp đổ, một số người đã tập trung ở công trường giật đổ tượng Hai Bà như muốn xóa bỏ “dấu tích” của phu nhân cố vấn tổng thống. Nhiều người chứng kiến vụ giật đổ kể đầu hai pho tượng sau đó được bỏ lên xích lô đem đi diễu hành khắp phố, rồi không biết thất lạc nơi đâu. Từ năm 1963 đến 1967, bệ voi vẫn nằm ở công trường nhưng không có tượng nào được trưng trên đó.

Sau này, có một thời gian công trường Mê Linh được giao cho hải quân nên được đổi thành công trường Bạch Đằng. Đây vừa là quân cảng vừa là bến sông tiếp nhận tàu bè từ cảng Sài Gòn. Chuyện dựng tượng Trần Hưng Đạo cũng có nhiều câu chuyện thú vị xoay quanh. Bởi ít người biết rằng bức tượng Trần Hưng Đạo nổi tiếng ở Sài Gòn suốt gần 50 năm qua lại là tác phẩm đầu tay của Phạm Thông - một chàng trai mới vừa tốt nghiệp Đại học Mỹ thuật Sài Gòn.

< Tượng Trần Hưng Đạo trước năm 1975.
Dulichgo
Sau này, kể với báo chí, nhà điêu khắc Phạm Thông cho biết năm 1967, khi ông mới 24 tuổi, binh chủng hải quân của Việt Nam Cộng hòa kết hợp với Hội Đức Thánh Trần tổ chức cuộc thi tạc tượng Trần Hưng Đạo để đặt ở vị trí công trường Mê Linh thay cho tượng Hai Bà Trưng bị phá hủy trước đó. Ban đầu đồ án của ông là tượng ngồi nghiên cứu binh thư yếu lược. Nhưng khi bắt tay vào thiết kế, ý tưởng Hưng Đạo Đại Vương đứng trên cao chỉ xuống sông Sài Gòn ở vị trí bến Bạch Đằng như bây giờ thuyết phục được Phạm Thông. Cuộc thi đó có 13 đồ án tham dự và cuối cùng điêu khắc gia Phạm Thông thắng giải.

Sài Gòn năng động và thơ mộng

Bức tượng Hưng Đạo Đại Vương cao gần 6 m, đứng trên một bục lăng trụ tam giác cao gần 10 m. Trụ tam giác này tận dụng vị trí kiềng ba chân đã đặt tượng Hai Bà Trưng trước đó. Mẫu tượng do Phạm Thông thiết kế là vị Đại tướng trong y phục võ tướng, một tay tì lên đốc kiếm, một tay chỉ xuống sông và nói: “Phen này nếu ta không phá xong giặc Nguyên, thề không bao giờ trở lại khúc sông này nữa”. Chính hình ảnh oai hung và tinh thần chống giặc xâm lăng mà Phạm Thông đưa ra đã thuyết phục ban tổ chức dù rằng cuộc thi đó nhiều điêu khắc gia nổi tiếng và hơn tài ông tham dự.

< Tượng Trần Hưng Đạo hiện nay. Nơi đây minh chứng cho sự phát triển của Sài Gòn khi rất nhiều cao ốc được xây dựng.

Trong hồi ức của mình, nhà văn Phan Lạc Tiếp cho biết ngay cả điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu - người nổi tiếng với tượng Tiếc Thương - cũng tham dự cuộc thi tạc tượng Trần Hưng Đạo. Ý tưởng của điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu là một mẫu tượng Đại tướng trong tư thế ngồi, tay trái đè lên đốc kiếm tay phải cầm cuốn sách, được coi như binh thư. Đại tướng quân hướng mắt về phương bắc, vừa là biểu tượng của người đi biển hướng về sao Bắc đẩu, vừa là nỗi lo âu muôn đời của người Việt về giữ yên bờ cõi biên cương biển trời. Rất tiếc mẫu thiết kế này không được chọn khiến điêu khắc gia nổi tiếng này rất buồn.

< Đây còn là nơi có nhiều du khách nước ngoài đến tham quan.

Phạm Thông kể lại những người chủ trì việc dựng tượng yêu cầu ông làm việc rất nghiêm túc. Thay vì thời gian thực hiện đồ án chỉ vài tháng cuối cùng kéo dài tới gần 1 năm. Ngày khánh thành tượng, 5 giờ sáng, ông còn phải trèo lên tượng đục đẽo, sửa chữa cho tượng đạt yêu cầu.
Dulichgo
Niềm hạnh phúc của điêu khắc gia Phạm Thông là sau này có hai phiên bản tượng Trần Hưng Đạo được đúc để gắn ở Quy Nhơn, Vũng Tàu. Sau năm 1975, nhà điêu khắc Phạm Thông sang Mỹ định cư.

Còn về tượng Trần Hưng Đạo ở Sài Gòn sau khi hoàn thành nhanh chóng được người dân đón nhận. Công trường Mê Linh những năm về sau không chỉ nổi tiếng khi đây chính là minh chứng cho sự năng động của Sài Gòn khi các tòa nhà cao tầng đua nhau chen chúc mà còn là chốn hẹn hò của đôi lứa ở bến Bạch Đằng nhìn ra sông Sài Gòn đầy thơ mộng.

Theo Trung Hiếu (Báo Thanh Niên)
Du lịch, GO!

Thứ Bảy, 28 tháng 11, 2015

Chuyện chưa từng kể về đảo Côn Lôn

(LĐO) - Nằm ở vị trí tiền tiêu phía đông nam tổ quốc, đảo ngọc Côn Lôn (Côn Đảo) được nhắc đến như một điểm dừng chân của nhiều thế hệ các nhà hàng hải và lọt vào “tầm ngắm” của các thế lực bành trướng phương Tây nhiều năm về trước.

Đảo của rắn và “quái vật”

Là người nhiều năm nghiên cứu về lịch sử phát triển của đảo Côn Lôn, J.C Demariaux - một học giả thuộc Hiệp hội Nghiên cứu Đông Dương đã có nhiều khám phá thú vị. Kết quả nghiên cứu của ông đã được công bố bằng tiếng Pháp trên Tuần báo Đông Dương (Indochine Hebdomadaire Illustré) số 196, ra ngày 1.6.1944 và số 197, ra ngày 8.6.1944, hiện đang được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia I. Đây thực sự là những tài liệu tham khảo có giá trị, xin được giới thiệu sơ lược.

(…) Nằm cách mũi Saint - Jacques (nay là Vũng Tàu) chừng 97 dặm và cửa sông Mê Kông chừng 47 dặm là quần đảo Poulo –Condore, người bản xứ gọi là Côn Lôn hay Côn Nôn (nghĩa là Đảo Rắn, do có rất nhiều loài bò sát sinh sống trên các đỉnh đồi).

Dường như người Tây Ban Nha là những người Âu đầu tiên đặt chân lên quần đảo hồi đầu thế kỷ XVI, bởi trong thời gian chiếm đóng của người Pháp, người ta tìm thấy những đồng tiền in hình Charles - Quint niên hiệu 1521.
Dulichgo
Người Anh đặt chân lên vùng đất này năm 1702, điều đó được ghi lại trong báo cáo của nhân viên Hãng Pháp Ấn - Veret. Ông này chính là người khuyên người Pháp nên chiếm đóng Côn Lôn, bởi đây là “điểm trung chuyển quan trọng đối với các tàu của Trung Hoa, Bắc Kỳ, Ma Cao, Manila, Java”.

Hãng Đông Ấn của Anh (Honorable East Indian Company) đã đi trước người Pháp khi quyết định cho xây dựng một thương điếm ở đảo Côn Lôn lớn, chính Chủ tịch Allen Catchpole đứng đầu thương điếm Chu Sơn, Trung Hoa được giao điều hành thi công công trình này. Hiện người ta vẫn còn có thể nhận ra vết tích sót lại của khu thương điếm là những đống đá, đống đổ nát của lò nung và vài mảnh sứ vỡ vùi dưới các bụi cây (các tài liệu lưu trữ liên quan đến số phận của khu thương điếm này có thể tìm thấy ở Calcutta).

Dưới mỏm đá vươn ra Biển Đông, một vịnh nhỏ đầy cát lọt thỏm giữa khu rừng rậm tạo nên khoảng trống lấp lánh. Đó có thể là bãi cát mà người Anh đã đổ bộ và bắt gặp những con rùa biển khổng lồ. “Quái vật có vảy hoe vàng bò cùng hàng ngàn con nhỏ khác mới nở ra, đó là động vật có nhau thai dính vào bụng” - Allen Catchpole miêu tả.

Chúng tôi trung thực và không gây hại cho bất kỳ ai

Côn Lôn đặc biệt thu hút sự quan tâm của người Anh, họ cố gắng thiết lập quan hệ với người dân nơi đây. Thuyền trưởng Gore đã đặt chân lên quần đảo này từ ngày 20 - 28.1.1780 trong lịch trình vòng quanh thế giới với hai chiếc tàu Résolution và Découverte.

Vào thời điểm đó, các đảo Côn Lôn vẫn là đất của triều đình Huế với chừng 30 nóc nhà nằm rải rác. Thuyền trưởng Gore hỏi người dân làm thế nào có thể mua thức ăn dự trữ. Một viên quan theo đạo Cơ đốc tên gọi Luc cho hay, ông ta sẽ bán trâu cho thuyền trưởng, mỗi con chừng 4-5 đồng bạc. Lúc khởi hành, thuyền trưởng Gore tặng viên quan một cái kính và nhờ ông ta chuyển một bức thư tới Giám mục tòa Adran Bá Đa Lộc.

Huân tước Macartney - Đại sứ đặc biệt của Vua Anh Georges Đệ Tam bên cạnh triều đình Trung Hoa - cũng từng dừng chân trên các đảo Côn Lôn trong hai ngày 17 - 18.5.1793. Ông ta muốn xem xem liệu người Pháp đã đổ bộ lên các đảo hay chưa. Một số người trên hai tàu Lion và Indoustan rời thuyền xuống mua thức ăn dự trữ tại một ngôi làng nhỏ, người dân hứa sẽ giúp họ có đủ thức ăn ngay ngày hôm sau.

Khi trở lại lấy thức ăn dự trữ như đã hẹn, họ thấy cả ngôi làng trống hoác, cửa nhà mở toang, không vật dụng nào bị mang đi, gia cầm thả rông tự tìm thức ăn quanh nhà. Trong một gian nhà, thủy thủ Anh tìm thấy một mẩu giấy viết bằng tiếng Hán: “Chúng tôi không đủ đông, rất nghèo khổ nhưng trung thực và không có khả năng gây hại cho bất kỳ ai. Chúng tôi từng rất sợ hãi khi thấy những con tàu to lớn cùng những người đàn ông lực lưỡng khi chúng tôi không đủ gia súc và các thức ăn dự trữ khác cung cấp theo yêu cầu của họ. Chúng tôi có rất ít đồ ăn cung cấp cho các ngài và chúng tôi không thể làm điều mà các ngài trông mong ở chúng tôi. Nỗi sợ hãi bị ngược đãi và khát khao được sống đã buộc chúng tôi phải chạy trốn… Chúng tôi để lại trong làng mọi thứ chúng tôi có và các ngài có thể lấy đi, nhưng xin đừng đốt các ngôi nhà của chúng tôi”.

Các tác giả của bức thư trên chắc đã từng bị những người nước ngoài đối xử rất thậm tệ. Đoàn thủy thủ người Anh không lấy bất kỳ thứ gì và để lại trong ngôi nhà món quà tặng kèm theo một bức thư tiếng Hán: “Những chiếc tàu ghé thăm hòn đảo và những người đã đặt chân lên đây là người Anh. Chúng tôi đến chỉ để mua thức ăn tươi và không có ý xấu…”.
Dulichgo
Dường như người Anh không có may mắn với vùng đất này, bởi vào lúc tàu của họ bắt đầu nhổ neo rời đi đến Trung Hoa thì tời trên tàu Indoustan bị đứt. Chiếc neo đang kéo lên nửa chừng rơi xuống với tốc lực cực lớn, chiếc tời quay cực mạnh cuốn phăng các thanh chắn được đẽo vuông chừng 6 tấc và dài 16 piê (mỗi piê chừng 30cm) khỏi lỗ đóng, văng tứ tung khiến nhiều người bị thương nằm ngổn ngang trên cầu tàu. Vụ tai nạn khiến viên thuyền trưởng hoảng sợ, vội vã ra lệnh rời đảo, bỏ chiếc neo nằm lại biển sâu.

Cửa ngõ eo biển Malacca

Lịch sử “bị chiếm đóng” của các đảo Côn Lôn ít được biết đến. Sau vụ thảm sát do lính Macassar gây ra năm 1705, người Pháp mới tính đến việc chiếm các đảo Côn Lôn. Theo Tạp chí Địa Lý xuất bản năm 1889-1890, Alexis Faure kể lại: Năm 1721, một nhân viên Hãng Pháp Ấn có tên là Renault được giao tiến hành điều tra dân số, khí hậu cũng như hoạt động sản xuất trên các đảo. Trong báo cáo gửi về, Renault nói về sự tồn tại của các sinh vật lạ, sóc và thằn lằn bay. Vào thời đó, Côn Lôn lớn được đặt tên là đảo Orléans để tôn vinh Công tước vùng Orléans của Pháp, tuy nhiên không có bất kỳ công trình nào được dựng lên ở đây.

Năm 1752, Dupleix thu thập thông tin từ các nhà truyền giáo và tiếp quản kế hoạch chiếm đóng Côn Lôn. Bất hạnh thay, ông này bị triệu hồi về Pháp và cuộc chiến Anh – Pháp kéo dài 7 năm đã khiến kế hoạch chiếm đóng Côn Lôn không được quan tâm.

Theo ký giả Charles Maybon, còn có một kế hoạch khác do thương gia Protais-Leroux, người từng có 8-9 năm kinh nghiệm làm việc ở Ấn Độ gửi cho De Machault - Chánh Thanh tra Bộ Tài chính Pháp - ngày 15.5.1755. Trong thư, Leroux trình bày các ưu điểm nếu cho xây dựng một thương điếm ở Côn Lôn, “quần đảo nằm ở cửa ngõ eo biển Malacca” có giá trị chiến lược lớn: “Hòn đảo là nơi trú ẩn cho các tàu Âu đến Trung Hoa; chúng ta có thể trú đông, sửa chữa và đóng vá mọi loại tàu trong cảng phía bắc bằng gỗ xây dựng trong vùng nếu cần. Cảng phía nam sẽ đem lại lợi ích rất lớn”.
Dulichgo
Leroux đề nghị cho xây thương điếm càng nhanh càng tốt. Tuy nhiên, tình hình tài chính của Hãng Pháp Ấn không cho phép nghĩ đến kế hoạch to tát ấy. Sau năm 1757, hãng tàu thủy Pháp ngậm ngùi nhìn hãng tàu thủy Anh qua mặt thống trị các biển toàn khu vực Nam Á, trở thành một sức mạnh xâm lược lẫn quân sự.

Kho báu

Trong lịch sử Phái bộ Nam Kỳ, Cha Launay viết lại nhật ký của Cha Levasseur bàn về xây dựng một thương điếm năm 1768 ở Côn Lôn. Có thể nói, tất cả các dự án từ năm 1705 của người Pháp mới chỉ dừng lại ở ý tưởng. Năm 1773, cuộc nổi dậy của Tây Sơn nổ ra, giám mục Bá Đa Lộc cùng Nguyễn Ánh chạy trốn trên các đảo dọc bờ biển Nam Kỳ.

Phần lớn dân làng An Hải trên đảo Côn Lôn là hậu duệ của nhà Gia Long, họ còn cất giữ rất nhiều sách cổ viết bằng chữ Hán. Người ta cũng nói về những bộ áo giáp và những khẩu súng mút-kê cũ (sản xuất ở thế kỷ XVI-XVII) được tìm thấy trong một hang động dưới thời chúa đảo Lambert. Khắp nơi trên quần đảo, người ta rỉ tai nhau về những kho báu chôn giấu chưa được tìm thấy.

Ngày 25.11.1896, trong khu vực nhà tù số 1, tù khổ sai Dang Van Tam khi đào hào đã phát hiện 2 chum chứa đầy đồng tiền bạc và vòng vàng. Đó có thể là của cải dự trữ được cất giấu của Nguyễn Ánh. Vào ngày chạy trốn khỏi trùng vây thuyền chiến của quân Tây Sơn, Nguyễn Ánh đã bỏ lại tất cả số vàng bạc đó, tháo thân sang Xiêm.

Thống đốc Nam Kỳ Ducos đã ra lệnh bán rồi chia số tiền thu được thành hai phần bằng nhau: Một nửa nộp cho chính phủ thuộc địa, một nửa trao cho tù khổ sai Dang Van Tam. Ngày 14.1.1897, Thống đốc viết: “Khi một kho báu tình cờ được phát hiện, chiểu theo Điều 716 Luật Dân sự, người phát hiện có quyền hưởng một nửa kho báu, phần còn lại thuộc về người sở hữu đất”.

Người nổi dậy bị treo cổ và nguồn gốc ra đời nhà tù khổ sai

Hiệp ước Versailles ngày 28.11.1787 giữa Vua Louis XV và Vua Gia Long do Giám mục tòa Adran Bá Đa Lộc soạn thảo, theo đó Vua Gia Long đồng ý nhượng lại cho Pháp quyền sở hữu các đảo Côn Lôn. Dù có hiệp ước trên nhưng thực tế, không có bất kỳ đơn vị lính đồn trú Pháp nào được triển khai trên quần đảo. Trong chuyến ghé thăm của Huân tước Macartney ngày 17 và 18.5.1793, ông ta không hề gặp một lính Pháp nào ở đây.

Pháp thực sự sử dụng quyền sở hữu quần đảo này vào ngày 28.11.1861, khi ra lệnh tàu hộ tống Norzagaray cập đảo theo lệnh của Đô đốc Bonard - Thống đốc Nam Kỳ đầu tiên, người tuyên bố “muốn hoàn thành sớm nhất có thể những mục tiêu của Hoàng đế Napoléon Đệ Tam”. Theo tài liệu ở Nam Kỳ, tôi (tác giả J.C Demariaux) đã tìm thấy và được đọc biên bản chiếm đảo.
Dulichgo
Đó là một tờ giấy vàng bị rách ở giữa vì mối đục: “Hôm nay, thứ năm là ngày 28.11.1861, vào lúc 10h sáng. Tôi tên là Lespès Sébastien - Nicolas Joachim, đại úy hải quân, chỉ huy tàu Hải quân Hoàng gia Norzagaray, hành động theo mệnh lệnh của chính phủ, tuyên bố chiếm giữ nhóm các đảo Poulo - Condore (Côn Lôn), nhân danh Hoàng đế Napoléon Đệ Tam - Hoàng đế của người dân Pháp.

Theo đúng lệnh, tàu Pháp đổ bộ lên đảo Côn Lôn lớn kể từ ngày này. Biên bản chiếm giữ được lập trước sự chứng kiến của các sĩ quan tàu Norzagaray. Biên bản lập trên đất liền, vịnh Tây Nam đảo Côn Lôn vào ngày, tháng, năm trên đây…”. Biên bản được trưng bày tại Hiệp hội Nghiên cứu Đông Dương, sau Nhà triển lãm Sài Gòn.

Khi Pháp đặt chân lên các hòn đảo Côn Lôn, 129 tù binh của triều đình Huế đang bị giam trong một đồn lũy. Ban ngày, số tù binh này được tự do trồng cấy chăn nuôi, nhưng khi đêm đến, tất cả bị cùm xích lại. Phần lớn tù binh đem theo vợ con, sống trong những túp lều lụp xụp quanh đồn, được che chắn bằng phên giậu.

Lính đồn trú ở đây gồm 80 người, dưới sự chỉ huy của Quan Chánh - viên quan của triều đình trực thuộc tỉnh Bình Long (nay là tỉnh Hà Tiên). Binh lính đóng quân 1 năm trên các đảo sau đó được thuyên chuyển vào đất liền. Họ không có súng mà chỉ được trang bị giáo mác.

Ngày 15.12.1861, đại úy Durand, chỉ huy tàu Monge thay thế tàu Norzagaray đã tiếp ông Chánh - người bản xứ đứng đầu các đảo. Tình hữu hảo được thể hiện qua những thùng quýt, cam, mít, xoài, bưởi, ngô, khoai lang, thuốc lá, trầu được ông Chánh sai người mang đến biếu các quan lính Pháp. Nhưng quan hệ này không duy trì được lâu, các lính bản xứ xuất thân từ đảo (lính bàu) cùng với các tù nhân nổi dậy chống lại người Pháp.
Dulichgo
Họ bầu một người tên là Nguyệt làm trưởng nhóm, bí mật đóng một con tàu lớn, vạch kế hoạch tiêu diệt hết các thủy thủ Pháp rồi trốn vào đất liền. Một tù khổ sai do quá sợ đã bán tin cho người Pháp, vụ nổi dậy bị dập tắt và Nguyệt bị treo cổ.

Khi làm các công việc thủy lực Hải quân, đại úy hải quân Manen trên tàu Norzagazay nhận thấy các bản đồ của Anh ở thời đó đã mắc lỗi địa lý khá nghiêm trọng. Các đảo Côn Lôn được vẽ dịch hơn 4 dặm về phía đông và hơn 1 dặm về phía bắc so với thực tế. Lỗi này là nguyên nhân làm chệch hướng của các con tàu khi đi ra biển Đông, do không đủ gió nên thường mắc cạn trên các bãi biển Cao Miên và những bản đồ của Anh trở thành công cụ dẫn đường tồi, khiến các thuyền trưởng thiếu kinh nghiệm bị lạc hướng.

Người ta nói rằng nước Anh lên tiếng phản đối việc gửi tàu Norzagaray đến các đảo Côn Lôn vì cho rằng về lý thuyết, người Pháp không có bất cứ quyền gì đối với các đảo trên, Hiệp ước Versailles ký với Vua Gia Long đã lỗi thời và Chính phủ Pháp đã thay đổi sau cuộc Cách mạng Pháp.

Ý kiến trên nhanh chóng bị bác bỏ bởi năm sau, Hiệp ước Sài Gòn ngày 3.6.1862 giữa một bên là Hoàng đế Pháp và Hoàng hậu Tây Ban Nha, một bên là Vua Tự Đức, trong đó Vua Tự Đức đồng ý nhường quần đảo và ba tỉnh Biên Hòa, Gia Định và Định Tường (Mỹ Tho) cho Pháp. Từ năm 1862, đô đốc Bonard đã cho xây dựng ở đây một nhà tù khổ sai để giam giữ những người bị kết án từ 1-10 năm tù và đó là nguồn gốc ra đời nhà tù khổ sai sau này.

Tù nhân nữ và sòng bạc

Giám đốc đầu tiên của nhà tù khổ sai là đại úy hải quân F.Roussel - người đã đề nghị Đô đốc Bonard gửi các nữ tù nhân tới Côn Lôn. Ngày 18.3.1862, Roussel viết: “Sự ra đi của vợ các quân tù và tù nhân Cao Miên khiến Côn Lôn không có bóng dáng người phụ nữ. Tôi tin rằng việc đưa những nữ phạm nhân đến đây sẽ là một tài sản đối với vùng đất này, khiến người dân gắn bó với đất đai hơn…”.
Dulichgo
Đô đốc Bonard không nhượng bộ trước mong muốn của cấp dưới mà phải đợi đến thời người kế nhiệm ông ta - Đô đốc Lafont - việc này mới được thực hiện. Nhưng điều này lại khiến viên sĩ quan quản lý đảo không hài lòng. Ngày 29.10.1879, viên sĩ quan này đã gửi bức thư hài hước không ghi rõ ngày tháng tới Đô đốc Lafont: “Hai con gà trống chung sống hòa bình. Một con gà mái đến và chiến tranh nổ ra. Điều đó muốn nói lên rằng, khi số gà trống nhiều hơn số gà mái thì bình yên không còn tồn tại trong cái chuồng gà nữa. Để tránh lộn xộn, tôi buộc phải cách ly hoàn toàn tù nhân nam với tù nhân nữ. Tôi cho rằng các tù nhân nữ không quá xinh và trẻ nhưng Côn Lôn rất hiếm phụ nữ. Các cảnh sát và cai ngục người Âu đã chịu đựng quá nhiều thiệt thòi nên không thể lường trước hậu quả có thể xảy ra...”.

Dịch tả đã khiến cho nghĩa trang của Pháp ở Côn Lôn trở nên chật chội. Dịch bùng phát hồi tháng 4-5.1864 khiến một đội lính đồn trú của Pháp tử vong. Bầu không khí lo sợ bao trùm lên khắp nhà tù khi các lính hải quân và pháo binh chết như ngả rạ, bất chấp nỗ lực chăm sóc của bác sĩ phẫu thuật quân y Viaud.

Sau khi người Pháp chiếm đóng các đảo, quần đảo Côn Lôn được chuyển giao, trực thuộc quản lý của Phủ Thống đốc Nam Kỳ, dưới quyền của một quan cai trị hoặc một sĩ quan, với chức danh “Giám đốc nhà tù và các đảo” (Directeur du pénitencier et des les). Nhà tù giam giữ khoảng 1.500 - 2.000 tù nhân, hàng trăm người trong số đó sống ở nông thôn, trong các trang trại, được giao chăn nuôi và trồng trọt.

Số khác được sai đi đánh cá hoặc tới làm việc ở các lò vôi với nhiên liệu lấy từ dải san hô. Dải san hô ở Côn Lôn không bao giờ cạn kiệt. Năm 1863, trung úy hải quân Bigot hứa với Đô đốc De la Grandière sẽ cho hoạt động 6 lò vôi để cung cấp vật liệu cho Nam Kỳ nhờ nguồn dự trữ san hô dồi dào.

Các khu rừng rậm phủ kín những ngọn núi của đảo Côn Lôn, đỉnh núi cao nhất ở đây cao tới 596m so với mực nước biển. Người Pháp cho xây đường cáp vận chuyển gỗ xây dựng từ trên núi xuống. Các sĩ quan hải quân chiếm đóng đảo dưới thời các đô đốc đã thống kê có 36 loài khác nhau ở đây, tất cả các loại cây gỗ nhiệt đới đều có nhưng hiện tại một số đã biến mất do khai thác và không tái trồng rừng.
Dulichgo
Ở đảo Côn Lôn lớn, người ta chỉ còn thấy gỗ sao. Với các loại gỗ khác, người ta phải đến tìm ở đảo Bai Kinh, nơi ngọn hải đăng xây trên đỉnh núi cao 212m so với mực nước biển, chiếu sáng cho tuyến hàng hải Singapore.

Có một thời người ta đã tính đến chuyện phá bỏ nhà tù khổ sai Côn Lôn. Ngày 28.9.1899, Hội đồng Thuộc địa Nam Kỳ ra quyết định phá bỏ nhà tù khổ sai Côn Lôn khi xảy ra dịch bệnh tê phù. Người ta dự kiến chuyển số tù nhân giam giữ tại đây tới 20-30 nhà lao trong đất liền và biến nơi đây thành các công trường lao động. Nhưng đến phút chót, một báo cáo viên có tên là Monceaux đã đưa ra kết luận.

“Tôi tán đồng quan điểm với các quan cai trị cho rằng những kẻ bị kết án phạm tội cần phải chuyển đến các nhà giam ở bên ngoài. Trong những xã hội có tổ chức, người ta luôn tiến hành mọi biện pháp cần thiết để loại tội phạm ra khỏi các trung tâm dân cư” - ông ta viết.

Người ta cũng đưa ra ý tưởng xây một sòng bạc ở đảo Côn Lôn lớn để cạnh tranh với Ma Cao, biến hòn đảo thành điểm hẹn của những người giàu có nhàn rỗi quanh vùng Viễn Đông. Năm 1936, kế hoạch bãi bỏ nhà tù khổ sai Côn Lôn được Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Marius Moutet và Bộ trưởng Bộ Tư pháp Marc Rucart tái khởi động nhưng không thành công. Từ đó đến thời điểm mà tác giả công bố bài viết này, không có bất kỳ ý tưởng mới nào được sinh ra.

Theo  Hồng Nhung - Hoàng Hằng (Lao Động)
Du lịch, GO!

Chủ Nhật, 22 tháng 11, 2015

Ông già 'gân' lái Sidecar xuyên Việt

(TNO) - Từ ngày về hưu, bạn bè thấy ông Nguyễn Thanh Bình và chiếc xe ba bánh rong ruổi nhiều hơn trên các con đường. Hỏi thì ông bảo: “Giờ tôi là tỉ phú thời gian, không ràng buộc gì. Mỗi lần thèm đi thì lái xe hoặc rủ thêm bạn bè làm một chuyến du ngoạn từ Nam ra Bắc cho đã”.

Chưa kể các chuyến ngắn ngày, khoảng 4 năm trở lại đây, năm nào ông Nguyễn Thanh Bình cũng lái xe xuyên Việt một lần. Cá biệt năm 2014, ông đi 4 lần ngắm đủ cảnh sắc của 4 mùa, rõ rệt nhất là tiết trời vùng tây và đông bắc, ngắm lễ hội xuống đồng, dân đi cấy lúa, lúa xanh mơn mởn trên ruộng bậc thang, rồi đi đợi lúa chín, mùa hoa tam giác mạch, mùa hoa mận, hoa mơ, ngắm sương giăng mây phủ trên đồi…

59 tuổi, cái tuổi cũng ít có người nào vẫn còn đam mê với những cung đường vắng, ngoằn ngoèo, lái xe vượt đèo băng rừng, lội suối như ông. “Có gì đâu, tôi may mắn là từ thời trẻ làm công việc được đi nhiều nên biết nhiều hơn mọi người một chút.
Dulichgo
Rồi khi lớn tuổi, có điều kiện thì mình thực hiện những chuyến đi dài hơi hơn, hiểu đời sống của cư dân địa phương, đào sâu tìm tòi chớ không phải là các chuyến đi công tác chớp nhoáng nữa. Hầu hết các cuộc du hành của hội Sidecar chúng tôi đều di chuyển từ 10 - 15 ngày, có khi 20 ngày để đi cho đã”.

Trên những hành trình dài, ngoài một vài người bạn chí thân, đồng đội của ông là một chiếc xe Sidecar 3 bánh huyền thoại. Những người trưởng thành vào những năm 1980 đều nhớ rõ hình ảnh yêng hùng của chiếc xe 3 bánh với thùng bên hông xe, một tài xế và 2 người đồng hành cùng băng băng trên các đoạn đường dốc cheo leo. Vốn dĩ, Sidecar sinh ra nhằm phục vụ mục đích quân sự, dùng để đi đến những vùng núi non hiểm trở. Và cũng vì đặc điểm dùng phục vụ cho những miền khó đi nên chiếc xe đặc biệt dễ tính. Ông Bình tâm sự: “Những kỷ niệm thời khốn khó khiến tôi luôn có thiện cảm đặc biệt với dòng xe đặc biệt này. Thời xưa mỗi lần đi đâu xa thì Sidecar là nhất, vì cơ động. Xe này đường càng xấu đi càng thích, thế mới thể hiện được bản lĩnh của người lái xe”.

Được sáng chế dùng đi mọi loại địa hình, nhưng Sidecar vẫn “kỵ rơ” với địa hình cát. Vì xe khá nặng, nên khi đi vào vùng cát chảy dễ bị lún sâu hoặc bị trượt nếu lao từ trên cao xuống. Đây vẫn là điểm yếu khiến các tay lái ngại thách thức. Lý thuyết là vậy nhưng với những tay chơi vì đam mê như ông Bình, không nơi nào có thể ngăn bước bánh xe của ông tới. Lâu lâu ông lại cùng bạn bè đi lên đồi cát ở Mũi Né (Phan Thiết) dạo vài vòng. “Đây được coi như những chuyến nghỉ ngắn của hội ba bánh. Từ Sài Gòn đến đây cũng gần nên chúng tôi cứ hẹn nhau buổi sáng lái thẳng ra đồi cát cắm trại tại đó. Chúng tôi vẫn luôn khuyên anh em nếu không tự tin thì cứ ngồi bên hông thùng thôi. Cứ bình tĩnh, cầm chắc tay lái là vượt qua được mớ cát trơn nhẫy đó”.

Lái xe Sidecar khó lắm, đó là nhận định chung của nhiều người. Một chiếc xe có gắn thùng bên cạnh có trọng lượng hơn 300 kg, khá là nặng đòi hỏi người lái phải có sức khỏe đủ để đẩy xe, đặc biệt là kỹ thuật điều chỉnh, vì ngoài tay lái, bên hông của người điều khiển còn có chiếc thùng xe, nếu không cân bằng được khi di chuyển rất dễ gây mất lái.

Rất nhiều tay lái lụa lâu năm vẫn có thể bị mất cân bằng, đặc biệt là những khúc cua khuỷu tay áo như đi Sa Pa, Mã Pì Lèng, Đồng Văn rất dễ bị chênh vênh và lao vào vách núi. Tuy nhiên, đây là chiếc xe được đánh giá “chì” nhất, xe lỡ tai nạn có bị hư hỏng phụ tùng nào, nếu vẫn chưa tắt máy thì người lái có thể cố chạy thêm cả trăm cây số để đến trung tâm sửa chữa. Dulichgo

Kể lại một kỷ niệm trong lần hư xe như thế, ông cho biết: “Đi Sidecar ở vùng núi chúng tôi yên tâm lắm. Đặc biệt là cung đường đi Tây Bắc, có nhiều lần hỏng xe ly kỳ lắm.

Nhớ lại lần đi xuyên Việt cách đây 2 năm, có anh bạn trong đoàn xe trên đường đổ đèo ở Hà Giang thì va vào núi, phụt bánh trước bị cong sắp gãy, vậy mà anh vẫn còn lái thêm được vài chục cây số để về tới thị trấn, sửa lại rồi đi tiếp. Có bạn thì lốp xe bể vẫn có thể chạy vài chục cây số đường đá lởm chởm tới nơi có tiệm sử xe mới dừng lại. Chưa kể trường hợp xe có 3 máy nhưng vì bị té va vào đá nên hư hết 2 còn 1 máy vẫn chạy ngon lành. Cũng vì thế mà chúng tôi, những người ở thế hệ cũ, đời sống khốn khó, thích tái chế, tận dụng mọi thứ nên đến giờ vẫn mê dòng xe cũ đa dụng này”.

Theo Nguyên Trang, NVCC (Thanh Niên)
Du lịch, GO!

Thứ Sáu, 20 tháng 11, 2015

Lễ hội Đua ghe Ngo khu vực ĐBSCL

(Dân Trí) - Lễ hội Đua ghe Ngo tỉnh Sóc Trăng lần II- khu vực ĐBSCL năm 2015 sẽ diễn ra từ ngày 23- 25/11.

Ban tổ chức Lễ hội Đua ghe Ngo tỉnh Sóc Trăng lần II- khu vực ĐBSCL năm 2015 cho biết, lễ hội năm nay có 55 đội ghe Ngo đăng ký tham gia thi đấu (47 đội nam, 8 đội nữ), trong đó gồm 43 đội trong tỉnh (39 nam, 4 nữ) và 12 đội ngoài tỉnh (8 nam, 4 nữ). Đến nay, công tác chuẩn bị đã cơ bản hoàn thành, sẵn sàng cho lễ hội với tinh thần hào hứng, sôi nổi.

Tại lễ hội Đua ghe Ngo năm 2015 sẽ có các hoạt động chính như lễ khai mạc và bế mạc, giải đua ghe ngo; lễ cúng trăng; hội thi thả đèn nước; hội chợ thương mại, triển lãm, du lịch, ẩm thực; hội thao dân tộc;…

Các đội thi đua ghe Ngo khai mạc lúc 12h ngày 24/11; chiều 24/11 sẽ thi đấu vòng loại nữ, vòng loại nam; chiều ngày 25/11 sẽ thi đấu bán kết, chung kết nữ và bán kết, chung kết nam.

Lễ hội Đua ghe Ngo năm 2015 sẽ chính thức khai mạc vào tối ngày 24/11 và bế mạc vào ngày 25/11. Lễ hội hứa hẹn sẽ có những hoạt động hấp dẫn người xem.

Theo Dân Trí
Du lịch, GO!

Thứ Ba, 17 tháng 11, 2015

Gác Trịnh, điểm dừng chân ở Huế

Trong cái thành phố mà mỗi con đường đều có chí ít vài quán cà phê như Huế; lại có một quán cà phê (tưởng chừng như hiu quạnh bên đời) ở trên căn gác nhỏ luôn đều đặn khách. Đó là căn gác nhỏ nằm trên đường Nguyễn Trường Tộ, nơi nhạc sĩ Trịnh Công Sơn từng tá túc và chấm phá những nốt nhạc đầu tiên cho sự nghiệp âm nhạc lừng lẫy của mình.

< Gác Trịnh nằm ở tầng 2, số nhà 203/19, dãy nhà C, khu tập thể Nguyễn Trường Tộ. Căn gác nhỏ từng là “một chốn đi về” của nhạc sỹ Trịnh Công Sơn vào những năm 60 - 70 của thế kỷ trước. Tại đây ông đã sáng tác những bản nhạc đầu tiên của mình.

Quán cà phê “ Gác Trịnh” chỉ nhỏ chừng 20m2, đủ kê khoảng 5 bộ bàn ghế nhỏ cũng để vừa đủ không cho những ồn ào quấy nhiễu.

< Nơi đây còn lưu giữ lại những kỷ vật của ông, cùng tranh ảnh lưu niệm bạn bè, gia đình ông tặng lại. Chính những kỷ vật ấy đã làm nên một “không gian văn hóa Trịnh” có một không hai. Trong đó có những kỷ vật quý như ảnh của danh ca Khánh Ly gửi tặng, hay lá thư tình ông viết cho Dao Ánh…

Cây đàn guitar gỗ nằm ở góc phòng, những bức tranh của Trịnh và của bạn bè vẽ về ông; những cuốn sách về âm nhạc, văn chương của Trịnh, về Trịnh và những bình hoa tươi…vừa như tĩnh lại vừa như động khi từ chiếc loa nhỏ của quán những ca khúc của Trịnh ngân lên vừa đủ êm ái, thầm thì…

< Căn gác ở cuối nhà, nơi khung cửa sổ nhỏ là bộ bàn ghế ông từng ngồi để sáng tác những tình khúc bất hủ. Khách ghé có thể ngồi uống cafe ngay tại đây.

Khách đến với cà phê “ Gác Trịnh” thường là khách quen và tất nhiên là những người yêu Trịnh. Đó là một nhà thơ tóc bạc trắng bềnh bồng nụ cười luôn rộng mở; là một thầy giáo về hưu có nhiệm vụ chở vợ đi chợ Bến Ngự buổi sáng và tranh thủ đến ngồi với bạn là nhà thơ tóc bạc để đàm đạo. Có khi là mấy cô cậu sinh viên của Nhạc viện Huế đến quán để thả hồn theo nhạc. Có khi là một bác xích lô già sau một cuốc xe chợ sớm ngang qua “ Gác Trịnh” để nhấm nháp cái thư thả của một ngày…

< Gian nhà giữa quán là nơi treo nhiều tranh ảnh kỷ niệm của ông. Căn gác nhỏ không chỉ là kỷ niệm, đó còn là nỗi nhớ, niềm thương về một cố nhạc sĩ tài hoa một thời.
Dulichgo
Nghe anh chủ quán nói, những buổi chiều tà, có một phụ nữ thường đến quán một mình mà theo lời chị là để được tĩnh tâm cùng Trịnh sau những ồn ào, bon chen của cuộc sống thường ngày; để được “có bước chân nào hôm nay trùng bước chân người xưa...có nỗi lòng nào trùng với nỗi lòng người xưa…”

< Trịnh Công Sơn như vẫn còn ở đâu đó, trong không gian nhỏ, đậm chất Huế này, hay trong ca từ giản dị của những bài hát mà người quản lý vẫn mở mỗi khi khách ghé thăm.

Thì ra “Gác Trịnh” là góc nhỏ tâm tình sâu lắng của nhiều người: trẻ có, già có; nghệ sĩ có và người lao động bình dân cũng có. Mà họ đến đây không chỉ để tâm sự với nhau mà đôi khi chỉ một mình để tâm tình cùng âm nhạc của Trịnh, cùng những kỷ vật của Trịnh gần gũi và thanh thoát :“Chiều chủ nhật buồn-Nằm trong căn gác đìu hiu-Ôi tiếng hát xanh xao của một buổi chiều-Trời mưa trời mưa không dứt-Ô hay mình vẫn cô liêu…”

Sáng xuân nay, mình ghé “ Gác Trịnh” để được nhìn nắng vàng như nhảy nhót ngoài song, sóng sánh, vàng xanh trên những tán lá cây long não hai bên đường Nguyễn Trường Tộ.

Cây đã bao mùa thay lá xuân, hạ, thu, đông. Những bước chân của người xưa không còn qua đây nữa; nhưng những “ lời ru” của Trịnh thì vẫn còn đó như vỗ về đôi lứa yêu nhau, vỗ về kiếp nhân sinh trần thế: “Còn lời ru mãi -Vang vọng một trời -Mùa xanh lá vội -Ru em miệt mài -Còn lời ru mãi- Còn lời ru này- Ngàn năm ru hoài- Ngàn đời ru ai”.
Cách đây gần 3 năm đạo diễn Trần Văn Thủy, tác giả của các phim tài liệu " Hà Nội trong mắt ai", " Chuyện tử tế"... vào Huế dạy cho một số phóng viên truyền hình đất Cố đô khóa học ngắn hạn về nghệ thuật làm phim tài liệu.

< Lá thư tình ông viết cho “Ánh tuổi nhỏ” được bà Dao Ánh tặng lại cho Gác Trịnh. Từ ngữ mượt mà năm xưa từng làm rung động trái tim cô nữ sinh Huế :“Anh nhớ Ánh lắm mà ngôn ngữ thì quá chật hẹp, quá cũ kỹ không chuyên chở nổi sự nhớ nhung này. Nên anh đã nói đã nhắc mãi mỗi ngày mà vẫn chưa đỡ nhớ tí nào.”
Dulichgo
Ngày chia tay, mấy anh em mời ông đi ăn bún thịt nướng Kim Long và nghe ông tâm sự: " Mình yêu Huế chính từ nhạc Trịnh Công Sơn khi ở chiến trường Trường Sơn chợt nghe lời ca rất lạ: " Đại bác đêm đêm dội  về thành phố- Người phu quét đường dừng chổi đứng nghe...". Sau đó ông đề nghị được đưa về thăm con đường vừa mới được mang tên Trịnh Công Sơn gần cầu Gia Hội ven sông Hương.
 Buổi tối ngồi trên xe nhìn ra thấy đường Trịnh Công Sơn nhuôm nhoan những quán nhậu dày đặc được đặt theo tên những bản tình ca nổi tiếng của Trịnh: “ Biển Nhớ”, “ Hạ Trắng”, “ Mưa Hồng”… nét mặt của người đạo diễn tài hoa có vẻ không vui...

< Đúng vậy, ngôn từ của ông chật hẹp, căn gác cũng không mấy rộng rãi. Nhưng trái tim ông rộng lớn vô cùng.

Cũng may một chị bạn trong nhóm đã nhanh trí bắt cho cả xe hát tập thể những lời ca quen thuộc của Trịnh chừng như để xoa dịu nỗi lòng của một “ kẻ sĩ Bắc hà” yêu mến Trịnh…

Sinh thời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn và những người bạn yêu nhạc của ông đã ấp ủ xây dựng "Nhà nguyện tình yêu" với thông điệp: “Nơi thề hẹn, nơi làm chứng, nơi gửi lại ngàn sau từng thời khắc rung động của cõi tình... Yêu nói không nên lời nhưng có cỏ, có hoa, có lời ca tiếng hát, có gió mát, trăng trong, có tia nắng vô tư là người làm chứng...”. Năm 2000, lần cuối cùng Trịnh Công Sơn về Huế quê hương, ông đã nói lên mơ ước thiết lập ngôi nhà ấy ...

< Trịnh Công Sơn từng nói “cái chết chẳng qua chỉ là sự đùa cợt sau cùng của cuộc sống”. Sau sự đùa đợt cuối cùng ông ra đi, nhưng tình yêu mà người nghe nhạc và nhóm nghệ sỹ Huế dành cho ông vẫn ở đấy, nơi căn Gác nhỏ.
Dulichgo
Bắt đầu từ chính ước nguyện của nhạc sĩ họ Trịnh, 4 chàng trai trẻ sinh viên Khoa Kiến trúc- Đại học Khoa học Huế đã tìm được ý tưởng và cùng nhau phác thảo nên đồ án  “Vườn âm nhạc Trịnh Công Sơn”. Ước mong của những người làm đề tài là cải tạo khu công viên đầu đường Trịnh Công Sơn bên cạnh dòng sông Hương và các địa danh nổi tiếng của Huế như chợ Đông Ba, cầu Gia Hội, Cồn Hến... trở thành một khu vườn âm nhạc đậm nét Trịnh. Để nơi đây là quán hội ngộ giữa người thưởng thức và nghệ sỹ âm nhạc, là nơi gặp gỡ giao lưu diễn tập của các nhóm nhạc... là nơi khơi nguồn cho những sáng tác, là nơi tổ chức các sự kiện âm nhạc ngoài trời phục vụ người dân và khách du lịch, là nơi trở về với cội nguồn, với dòng Hương Giang, nơi để mọi người tìm lại chính mình trong cõi nhân sinh, nơi hẹn thề của đôi lứa và là nơi để tận hưởng sự ngọt ngào, sâu lắng khi nghe một bản nhạc Trịnh.

< Lan can bên ngoài bày hai bộ bàn ghế, khách đến có thể ngồi trên đây ngắm xuống phố Nguyễn Trọng Tộ. Đây cũng là nơi mà Trịnh Công Sơn ngồi ngắm hình bóng “Diễm” dưới hàng cây long não, mỗi lần “Diễm” tan học về.

Đồ án đã đạt giải cao nhất của Cuộc thi Kiến trúc Quy hoạch với chủ đề “Ý tưởng sáng tạo vì Huế - Thành phố di sản, sinh thái và hiện đại” năm 2012 của thành phố Huế. Thế nhưng đến nay, đồ án vẫn còn nằm trên giấy. Khu công viên đầu đường mang tên người nhạc sĩ tài hoa họ Trịnh chỉ “ sáng đèn” mỗi dịp Festival khi những cựu nữ sinh Đồng Khánh tổ chức sân khấu ngoài trời để hát nhạc Trịnh và những ca khúc vượt thời gian. Còn tôi, ngày cuối năm, ngồi nhâm nhi tách cà phê sáng trên “ Gác Trịnh” nhỏ nhắn, bình yên mà thầm ước một ngày không xa khu vườn âm nhạc mang tên “Vườn Trịnh” trên con đường mang tên ông ở Huế sẽ được mở ra với tất cả mọi người…

Theo Một Thế Giới, Vnexpress
Du lịch, GO!