Thứ Bảy, 7 tháng 11, 2015

Có một xứ Quảng rất khác phía đại ngàn

(NDO) - Nhiều người biết đến du lịch Quảng Nam với bãi biển Cửa Đại ngập tràn nắng, với đô thị cổ Hội An sâu lắng, thâm trầm và sự huyền bí, rêu phong của di tích Mỹ Sơn. Còn có một xứ Quảng rất khác ở phía tây, giữa đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ, lưu giữ biết bao “địa chỉ đỏ” oai hùng của hai cuộc kháng chiến, điểm đến hấp dẫn của du lịch về nguồn và khám phá thiên nhiên, văn hóa của đồng bào dân tộc Cơ Tu.
Về dưới mái gươl

Ngược về hướng núi, có nhiều con đường để người ta đến với miền tây Quảng Nam. Từ Điện Bàn, Quảng Nam hay từ TP Đà Nẵng, rong ruổi theo tuyến quốc lộ 14G đi lên huyện Đông Giang, xuyên qua P’rao để đến Tây Giang rồi rẽ sang, men theo đường mòn Hồ Chí Minh để qua Nam Giang.

Dù đi bằng phương tiện đường bộ nào cũng tha hồ thưởng ngoạn những bức tranh muôn màu của núi xanh, trời biếc, điểm xuyết bằng đường nét của những cung đường quanh co, uốn lượn. Thấp thoáng dưới tán cây rừng hay bên dòng suối là những mái gươl - kiến trúc nhà truyền thống độc đáo của người Cơ Tu.

Dân tộc Cơ Tu, hay còn có những tên gọi khác là Cà Tu hay người Hạ, là một thành viên trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam còn giữ được hầu như vẹn nguyên những nét văn hóa riêng đặc sắc. Cư trú nhiều đời trên dãy Trường Sơn giữa không gian thiên nhiên kỳ vĩ, rừng núi ngút ngàn, tuy còn nhiều khó khăn, nhưng họ có cuộc sống tinh thần phong phú, tươi vui, yêu lao động, giản dị và rất mực mến khách.

Sau một thời gian dài tưởng chừng như mai một, đến nay nhà gươl cùng nhiều nét văn hóa truyền thống Cơ Tu, như nhà mồ điêu khắc gỗ, điệu múa Tung tung da dá… đã và đang từng bước được khôi phục lại. Gươl là thiết chế văn hóa làng xã cơ bản của người Cơ Tu, là chốn linh thiêng kết nối xuyên suốt mọi hoạt động văn hóa cộng đồng. Nơi đây vừa giống như một bảo tàng lưu giữ nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc, vừa diễn ra các sinh hoạt tập thể, các lễ hội truyền thống của dân làng. Trong gươl treo nhiều chiêng, trống, chum, chóe, gùi, nỏ, bầu nước… Giữa sân gươl là cây cột lễ với đường nét chạm trổ công phu và những hoa văn trang trí giống hoa văn trên trang phục thổ cẩm của người Cơ Tu. Đồng bào đã giã gạo, dệt vải, nhảy múa, uống rượu quanh gươl từ đời này qua đời khác, và tất nhiên đấy cũng là nơi tiếp đón nồng hậu bao người khách phương xa đến thăm thôn làng.
Dulichgo
Chúng tôi đến làng Cơ Tu Bhơ Hôồng (xã Sông Kôn, huyện Đông Giang) vào một ngày bình thường, nhưng lại may mắn được thưởng thức không khí lễ hội của một buổi văn nghệ quần chúng mà dân làng tổ chức. Ngôi làng cổ nằm lưng chừng núi, cạnh con suối Mơ Tua xanh trong ngăn ngắt, gây ấn tượng bởi đường đi lối lại sạch sẽ, những nếp nhà Cơ Tu nhỏ xinh ẩn hiện giữa vườn cây. Ban ngày, người lớn đi rẫy, đi rừng gần hết cho nên chỉ có đám trẻ nhỏ hồn nhiên loanh quanh bày trò chơi giữa sân gươl. Nhưng tối đến, khi màn sương đêm mang theo hơi lạnh se se của vùng núi cao bao trùm xuống, bên đống lửa hừng hực cháy là tiếng cồng, nhịp chiêng rộn rã và vũ điệu Tung tung da dá nhịp nhàng, đầy sức sống. Người Cơ Tu thết khách những thức ăn thơm ngon mang đậm phong vị núi rừng như zơ rá (rau hoặc thịt, cá nướng trong ống tre), zơ rúa (thịt lợn muối chua), cơm lam…

Đặc biệt là món rượu tà vạt độc đáo chỉ riêng có xứ này, được làm từ nhựa cây tà vạt (một loại cây họ dừa) và chất men lá rừng, thơm lừng và có vị rất đặc trưng. Rượu tà vạt, rượu tà đin, rượu cần Cơ Tu đều không có nồng độ cao nhưng vẫn làm lòng người say sưa, nghiêng ngả, giữa không gian mênh mông đất trời và tình người xứ núi hào sảng. Những người con trai, con gái Cơ Tu trong trang phục truyền thống mang sắc đen, đỏ và kết cườm trắng độc đáo, môi nở nụ cười tươi tắn biểu diễn điệu múa cổ truyền Tung tung da dá giữa vòng tròn dân làng và các nhóm khách.

Tung tung da dá là điệu múa dâng trời, gắn bó mật thiết với cộng đồng bao đời nay và xuất hiện trong tất cả các sinh hoạt lễ nghi, đời sống của đồng bào Cơ Tu. Tung tung tiếng Cơ Tu nghĩa là vươn cao hơn, mạnh mẽ và vững chãi hơn, dành cho những cánh tay đàn ông mạnh mẽ cầm nỏ, cầm gươm giương cao lên trời biểu hiện sức mạnh, ý chí và khát vọng chinh phục thiên nhiên, chống lại thiên tai địch họa, gìn giữ thôn làng. Còn da dá là thẳng hàng, nhịp điệu dành cho nữ giới với đôi bàn tay mềm mại uyển chuyển nâng cao ngang vai, với ý nghĩa tâm linh là đón chờ và biết ơn trời đất cho mưa thuận gió hòa, cầu mong mọi người mạnh khỏe, bình an. Về khuya, mọi người ngồi lại quây quần nghe các già làng dạy thanh niên thổi khèn abel, sáo a reng, đánh đàn tơm rech, tập hát mấy điệu lý, câu hát của dân tộc. Hôm ấy, ngoài mấy bạn trẻ người Việt trên đường đi “phượt”, còn có một đoàn hơn chục khách quốc tế, chủ yếu là người Ô-xtrây-li-a nối tua du lịch từ Hội An. Tất cả họ đều rất thích thú trước những nét văn hóa rất tự nhiên, độc đáo và sự thân thiện, nhiệt tình của người Cơ Tu nơi đây.

Làng Bhơ Hôồng là khu làng du lịch sinh thái - văn hóa cộng đồng được đánh giá cao, là niềm tự hào của nhân dân ở đây lâu nay, bên cạnh những địa danh, điểm du lịch nổi tiếng, hấp dẫn trên tuyến đường tây Quảng Nam như làng nghề dệt thổ cẩm truyền thống Đhơ Rôồng - xã Tà Lu, Khu du lịch sinh thái Hang Gợp - xã Mà Cooih (huyện Đông Giang); thác nước G’răng, làng nghề dệt thổ cẩm Za Ra, xã Tà Bhing (huyện Nam Giang); cụm địa đạo A Nông - xã A Nông, Làng gốm C’noonh - xã Axan, Nhà làng truyền thống Cơ Tu huyện Tây Giang…

Lời mời gọi của núi rừng
Dulichgo
Ý tưởng xây dựng các làng du lịch dựa vào cộng đồng và phát huy các tiềm năng du lịch sinh thái, văn hóa tại các địa phương phía tây Quảng Nam nhằm bảo tồn, phát huy và kết nối các giá trị truyền thống độc đáo của các dân tộc anh em. Đồng thời cũng làm phong phú thêm các sản phẩm du lịch của miền đất di sản, giảm tải cho phố cổ Hội An và khu di tích Mỹ Sơn. Suốt chặng đường khám phá của du khách trên tuyến đường Hồ Chí Minh huyền thoại, những di tích lịch sử của một thời khói lửa hào hùng hay các làng cổ Cơ Tu hoang sơ đều mang những nét hấp dẫn, ấn tượng riêng.

Dự án phát triển du lịch cộng đồng Cơ Tu tại xã Tà Bhing (Nam Giang) do Tổ chức Cứu trợ phát triển quốc tế (FIDR) của Nhật Bản hỗ trợ, phối hợp chính quyền địa phương từ cuối năm 2012, đã bước đầu giúp tạo thu nhập cho người dân, gắn với bảo tồn văn hóa truyền thống dân tộc. Tính đến tháng 10 năm nay, xã Tà Bhing đã đón khoảng 65 đoàn khách, chủ yếu đi về trong ngày. Trong thời gian một ngày, du khách được trải nghiệm các hoạt động văn hóa cộng đồng Cơ Tu, như thưởng thức các món ăn truyền thống, xem múa hát, thử dệt vải thổ cẩm, trải nghiệm cuộc sống với người dân.

Theo chị Kim Lan, Tổ trưởng tổ dệt làng Za Ra, mặc dù doanh thu từ du lịch và dịch vụ chưa cao, nhưng thành công của mô hình này là đã khơi dậy niềm tự hào của người dân về các giá trị văn hóa của dân tộc mình, nhất là với thế hệ trẻ. Còn ở làng Đhơ Rôồng (Đông Giang), sản phẩm thổ cẩm dệt tay kết hạt cườm đặc trưng của người Cơ Tu là thế mạnh được chú trọng. Chị Bríu Hành ở hợp tác xã dệt Đhơ Rôồng cho biết, từ khi làng mở cửa chào đón khách du lịch cộng đồng, các khung dệt của chị em có cơ hội hoạt động trở lại, tạo thêm thu nhập mỗi tháng từ 350 đến 400 nghìn đồng, tuy không nhiều nhưng có ý nghĩa lớn với người phụ nữ Cơ Tu. Thổ cẩm của người Cơ Tu có mầu sắc chủ đạo là đen hoặc xanh dương, điểm sọc dọc ngang mầu đỏ, mầu hồng, với các hạt cườm tạo hình núi rừng, mái nhà, hoa ablơm, lá a tút, cây tà vạt cây nêu… những sự vật gần gũi thân thuộc với đồng bào miền sơn cước. Nhưng để thu hút khách hơn, chị em đã có sáng kiến nhờ các nghệ nhân ở Hội An tư vấn thêm để cải tiến về kiểu dáng, hoa văn, câu chữ sao cho bắt mắt, hiện đại.

Còn ở làng Bhơ Hôồng, các nhà dân tham gia du lịch cộng đồng gần như không tuần nào vắng người. Trải nghiệm qua đêm tại ngôi nhà mool truyền thống Cơ Tu làm hài lòng hầu hết các đoàn khách trong và ngoài nước. Nhiều hoạt động như lễ hội đâm trâu, mừng cơm mới, đánh cồng chiêng, nghề dệt thổ cẩm, đan gùi… được tái hiện thường xuyên. Hằng ngày, Ating Pai, cậu hướng dẫn viên du lịch địa phương thường dẫn khách đi tắm suối, đi trekking (đi bộ đường rừng), leo núi, câu cá, hoặc giúp họ tập sử dụng các nhạc cụ dân tộc. Pai là một người con Cơ Tu có cơ hội về xuôi học hành đầy đủ, và khi tốt nghiệp đã quay về làm đúng ngành nghề, được góp phần nào sức mình cho diện mạo mới của vùng đất xa xôi và còn khó khăn này.
Dulichgo
Những thành quả đáng khích lệ đó chính là nhờ sự coi trọng các chủ thể văn hóa - đồng bào Cơ Tu. Bởi không ai hiểu rõ nét đẹp văn hóa truyền thống Cơ Tu hơn chính họ, không thể tái hiện các sinh hoạt văn hóa truyền thống nếu không có sự tham gia trực tiếp của họ. Nhiều xã, thôn đã tuyển chọn thanh niên để lập đội múa, đội khèn, thường xuyên tập luyện để trình diễn phục vụ du khách. Người Cơ Tu bây giờ thường chỉ mặc trang phục truyền thống vào lễ, Tết, nhưng các khung dệt vẫn đều đặn lên xuống để tạo ra sản phẩm thổ cẩm làm hàng lưu niệm. Và không thể không nhắc đến vai trò của các nghệ nhân, các già làng, những người có uy tín trong cộng đồng. Đó là ông Alăng Bảy ở xã Sông Kôn, người đã theo cách mạng tham gia nhiều trận đánh lớn nhỏ, năm lần bắn rơi máy bay Mỹ.

Thời bình, gia đình ông là điển hình tiên tiến về lao động sản xuất, đồng thời tích cực xây dựng bản làng văn hóa mới. Ông sưu tập nhạc cụ dân tộc không thiếu món nào và thường xuyên truyền dạy cho đám thanh niên trong bản, đồng thời có công rất lớn trong việc xây dựng làng văn hóa - du lịch Bhơ Hôồng. Người anh hùng chống giặc Mỹ năm xưa, nay vẫn khỏe mạnh, minh mẫn ở tuổi 85 và được dân làng yêu mến gọi là “già làng văn hóa”. Nhiều người còn biết đến già làng Y Kông ở xã Ba, huyện Đông Giang, người đã biến ngôi nhà riêng của gia đình thành một bảo tàng Cơ Tu thu nhỏ với hàng trăm hiện vật độc đáo, là nơi tập trung sinh hoạt văn hóa tinh thần của cộng đồng Cơ Tu và là điểm dừng chân thu hút khách du lịch…

Lâu nay, các địa danh giàu tiềm năng và truyền thống ở vùng tây Quảng Nam ít được biết đến, người dân ít được hưởng lợi từ du lịch. Do đó, phát triển du lịch cộng đồng là xu thế tất yếu, tận dụng nguồn lực tại chỗ, biến những giá trị thiên nhiên, con người, văn hóa… thành một phần giá trị kinh tế, góp phần xóa đói, giảm nghèo và nâng cao đời sống tinh thần cho bà con. Tuy nhiên, để mở rộng quy mô, tính chuyên nghiệp, để kết nối và tạo chuỗi sản phẩm du lịch có giá trị cao, vẫn cần rất nhiều nỗ lực của cộng đồng, cũng như sự hỗ trợ của chính quyền địa phương và ngành du lịch. Tiếng lành đồn xa, hy vọng cung đường tây Quảng Nam kỳ thú với sắc màu văn hóa Cơ Tu sẽ tiếp tục mời gọi và níu chân du khách.

Theo Hoàng Mỹ Hạnh (Báo Nhân Dân)
Du lịch, GO!

Thứ Sáu, 6 tháng 11, 2015

Phía sau những thửa ruộng bậc thang Mù Cang Chải

(KTO) - Mù Cang Chải đẹp lắm! Điều ấy chẳng ai nghi ngờ cả. Nhưng phía sau vẻ đẹp của thiên nhiên, là những ánh mắt buồn buồn của những đứa trẻ.

Đẹp như tranh ...

Ở Mù Cang Chải (Yên Bái) từ cuối tháng 9 đến giữa tháng 10 là mùa đẹp nhất trong năm: mùa lúa chín. Ruộng bậc thang uốn lượn theo những triền núi thành những hình khối tuyệt đẹp, có chỗ lúa đã chín vàng, có chỗ lúa còn đang xanh mướt tạo thành một bức tranh tràn đầy màu sắc. Có khi khuất sau một triền núi chợt hiện ra một thung lũng ngập nắng vàng, khiến ta phải sững sờ. Nhưng chẳng hiểu sao lên đến đây, tôi lại thấy sợ cái tính từ "đẹp như tranh" ấy. Bởi vì tranh thì đẹp đấy, nhưng chỉ để ngắm mà chẳng ăn được.

Men theo những thửa ruộng bậc thang ngập đầy nắng vàng đó, chúng tôi lên trường PTDTBT (phổ thông dân tộc bán trú) tiểu học Xéo Dì Hồ. Từ đường nhựa lên đây 7km, đường núi rất khó đi, đất trơn, nhiều rãnh, đã thế lại rất hẹp, một bên là núi, một bên là vực... Các thày trong trường đi xe máy ra chở người và hàng vào còn bảo may mà trời nắng chứ mưa thì phải quấn xích vào bánh xe để khỏi trượt hoặc chỉ có cách đi bộ.

Thày giáo chở tôi (vì mải sợ ngã nên tôi quên không hỏi tên) rất hóm hỉnh bảo, đi mãi thì cũng quen, nhưng ai cũng bị ngã vài lần cả rồi, chỉ có điều chở các đoàn từ thiện thì chưa ngã bao giờ!
Nhìn các thày vất vả chở người, chở hàng mà ái ngại. Đúng là của một đồng, công một nén! Vậy nhưng ai cũng vui, dựng xe, là hối hả phát quà luôn cho học sinh. Tấm lòng và nghị lực của những thày cô vùng cao này thật đáng khâm phục và trân trọng.

Đến cổng trường đã thấy rất đông người. Mấy phụ nữ vừa trông đám trẻ con tay vẫn thoăn thoắt cuộn những sợi lanh. Họ đều không biết nói tiếng Kinh. Cả những đứa trẻ học mẫu giáo cũng chỉ nói được tiếng dân tộc mình. Vào lớp 1 mới học tiếng Kinh. Cô giáo Hà Thị Thuận kể, các thày cô đều phải học cả tiếng dân tộc để dạy đám trẻ. Mấy năm gần đây Nhà nước có chính sách hỗ trợ cho học sinh các trường bán trú mỗi tháng 15kg gạo và 460.000đ nên các em đến trường rất đông. Không như trước đây, các thày cô phải đến từng nhà để vận động, thuyết phục gia đình cho con em đến lớp.

Chỉ tay vào những vách gỗ thưa hở hông hốc của lớp học, cô giáo Thuận bảo, mấy hôm nữa phải lấy bạt bịt kín lại, nếu không mùa đông sắp tới, sương muối sẽ tràn vào nhà, mọi thứ ướt hết. Mùa đông là mùa đáng sợ nhất ở vùng núi này. Quần áo phơi có khi cả tuần chẳng khô được. Trường ở nơi heo hút, đường sá đi lại khó khăn nên mọi nhu yếu phẩm các cô đều nhờ anh tiếp phẩm của trường mua hộ.
Dulichgo
Hôm ấy là chủ nhật, nhưng học sinh vẫn ở lại trường rất đông, còn xếp hàng đợi đón đoàn. Những đứa trẻ học đến lớp 4 mà còi cọc, bé tẹo như trẻ 5-6 tuổi, chúng giông giống nhau vì đều mặc những bộ quần áo dân tộc tối màu, những gương mặt nhem nhuốc và đặc biệt là ánh mắt u buồn...

Chỉ có duy nhất một bộ quần áo

Tối hôm trước, khi tới thăm trường PTDTBT tiểu học và THCS Mồ Dề, tôi hỏi cô giáo Nguyễn Thị Liễu, vì sao trẻ con ở đây trông buồn đến vậy. Cô bảo, vì chúng khổ lắm. Nhiều đứa 4-5 tuổi đi học mẫu giáo đã phải tự đi tự về, mà toàn đi đường núi vì bố mẹ chẳng đưa đón được. Lớp 3 bắt đầu được ở nội trú thì phải tự lo mọi thứ, kể cả đi rừng lấy củi. Có đứa cả tuần ở trường chỉ có mỗi bộ quần áo. Mùa đông rét thế cũng chỉ mỗi bộ quần áo ấy. Lắm hôm rét quá, các cô phải cho nghỉ học để đốt lửa sưởi. Đặc biệt, với học sinh, các thày cô phải vừa dạy vừa dỗ, chứ không dám ép buộc gì vì ở đây lá ngón sẵn lắm, không bằng lòng là chúng có thể nhai lá ngón ngay, rất sợ.

Trước khi lên đây, có người đã dặn tôi đừng mang sữa lên vì bọn trẻ trên này uống không quen có khi bị đau bụng. Các cô giáo ở đây cũng bảo, bọn trẻ người dân tộc chỉ ăn một số rau củ nhất định như bí, su su, măng, bắp cải, rau cải mèo, còn rau muống, mùng tơi... chúng không biết ăn.

Tôi cứ tiếc vì sao trường không tăng gia sản xuất, tự trồng lấy rau, nuôi lợn, nuôi gà vừa cải thiện bữa ăn, vừa dạy các em biết cách tổ chức cuộc sống... Cô Liễu thành thật chia sẻ, đúng ra thì đây cũng là một nhiệm vụ của trường, nhưng quỹ đất không có. Bao quanh là núi, là rừng, là màu xanh ngút ngát vậy thôi, chứ mọi thứ rau xanh trường đều phải mua dưới huyện. Dân quanh đây cũng chẳng có rau để bán cho trường, họ chỉ trồng một ít để ăn, lợn thì chỉ quen nuôi loại lợn mán nho nhỏ, nuôi cả năm mới được một lứa, năng suất lại không cao... thế nên rau và thực phẩm rất đắt. Một mớ rau ở quê cô chỉ 2.000đ thì trên này tận 5.000đ. Sắp tới trường cũng có kế hoạch thuê đất của dân để tăng gia.

Những sắc màu cần được lan truyền

Một điều đáng mừng là ở mãi nơi heo hút này, nhưng các thày cô giáo ở trường Xéo Dì Hồ rất yêu đời. Ngôi trường nhỏ, nhưng khang trang, khu phòng học, khu nhà ở của giáo viên với những căn phòng nhỏ xinh ấm áp như những tổ chim, khu nhà ở của học sinh được làm bằng gỗ gọn gàng, những bồn hoa bóng nước, hoa mười giờ nở rực khắp sân, những giàn đậu đỗ xanh mướt, ngay một thẻo đất đầu nhà sát núi cũng được khai hoang để trồng rau cải, trồng hành... Các thày cô cho biết mấy khu nhà gỗ này là do các đoàn từ thiện xây cho.

Vậy là tình yêu cuộc sống, tình yêu với mảnh đất này sẽ khiến cho con người ta làm được những điều kỳ diệu, tô thêm màu sắc cho cuộc sống nơi đây. Chỉ có điều làm sao cho tình yêu đó truyền sang cho những đứa trẻ. Từ những bữa ăn được có thêm màu xanh của rau, mùi thơm của thịt, của lạc, của vừng, của những đồ ăn mới lạ... chứ không bó mãi trong vài thứ rau củ ít ỏi kia. Tập quán là thứ rất khó thay đổi nhưng không phải là không thể thay đổi.
Dulichgo
Trên đường đi, chúng tôi gặp rất nhiều đoàn thiện nguyện và cả rất đông những bạn trẻ đi phượt. Nhiều người lên đây vì tiếng gọi của cái đẹp, tức là lại thêm nhiều người biết về vùng đất này, yêu thêm vùng đất này. Đến rồi chắc chắn sẽ còn trở lại, không chỉ vì cái đẹp mà còn vì biết rằng người dân ở đây còn quá khổ, những đứa trẻ ở đây mùa đông này còn chưa có áo ấm.

Theo Nhật Minh (Kiến Thức)
Du lịch, GO!

Theo tiêu chí đánh giá sự phát triển thì Mù Cang Chải là huyện nghèo và đặc biệt khó khăn nhất nước.
Đói nghèo ở Mù Cang Chải chủ yếu do dân trí còn thấp, do đông con và do những phong tục, tập quán lạc hậu. Nghèo do tiệc tùng cưới hỏi thường kéo dài đôi ba ngày rất tốn kém trong khi tập tục nhiều nơi lại xem rượu như nước lã, thiếu ăn thì được nhưng thiếu rượu thì không thể! Đói nghèo do nhiều hộ có tư tưởng trông chờ, ỷ lại, sống phụ thuộc vào trợ cấp gạo cứu đói và các chương trình hỗ trợ của Nhà nước qua từng năm
.
Có lẽ để vừa đẹp cảnh, đẹp người thì cần phải chờ một thời gian dài nữa. Trong thời gian ấy, nếu có dịp đi Mù Cang Chải: bạn gắng đem theo những món quà thiết thực cho trẻ vùng cao. Ngoài ra, nếu có thể thì hãy khơi dậy ý thức, trách nhiệm của người dân đối với chính bản thân họ, gia đình, cộng đồng và xã hội - ví dụ nhỏ như vận động vệ sinh cá nhân, môi trường quanh nhà. Không thay đổi ngày một nhưng 'Mưa dầm thấm lâu' bạn nhé.

Hàu Đất Mũi

Do nằm sát biển và có hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt nên vùng đất ven sông, ven biển của vùng Đất Mũi Cà Mau rất thích hợp cho hàu sinh sôi, trú ngụ.

< Nuôi hàu lồng trên sông của ngư dân xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển.

Ở vùng Đất Mũi Cà Mau, hàu tập trung sinh sống nhiều nhất ở khu vực Hòn Đá Bạc, xã Khánh Bình Tây, huyện Trần Văn Thời; trên các dòng sông ăn thông ra biển như Tam Giang, Cái Lớn, Bồ Đề, Đầm Dơi, Ông Đốc, Gành Hào... Đặc điểm của hàu là rất thích bám vào các bờ kè bằng bê tông, theo những miệng cống xổ tôm, những chân cầu, hàng đáy, những tảng đá ngầm xung quanh các đảo.

< Ngư dân xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển thu hoạch hàu nuôi lồng trên sông.

Trong những năm gần đây, do đẩy mạnh việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất, phần lớn diện tích đất sản xuất và các dòng sông, con rạch trong tỉnh Cà Mau đều bị nhiễm mặn nên rất thuận lợi cho hàu sinh sôi, nẩy nở. Hàu con phần lớn được sinh sản tự nhiên rồi theo các nhánh sông, dòng nước tìm đến những nơi thích hợp nhất để trú ngụ, phát triển. Khi lớn, hàu chỉ sống duy nhất ở một nơi cố định. Một khi đã gắn mình vào nơi đâu thì cho đến khi cuối đời hàu không bao giờ đi đâu hoặc di chuyển chỗ nơi sinh sống nữa. Theo thời gian, theo những con nước lớn – ròng, hàu cứ lớn dần lên. Cứ thế, con người cứ tìm đến thu hoạch.
Dulichgo
Việc khai thác hàu cũng rất đơn giản. Thông thường, nguời ta chờ cho nước triều xuống (nước ròng) thì hàu đã “lộ thiên” phơi mình trong nắng. Cứ thế, người khai thác cứ chọn những con lớn nhất rồi dùng dao, dùng đục để tách hàu ra khỏi nơi sinh sống. Sau đó, tách vỏ lấy ruột, hoặc để nguyên con (nếu chưa dùng đến). Tuy nhiên, người khai thác hàu đòi hỏi phải có kỹ thuật, kinh nghiệm, nếu không dễ bị hàu cắt đứt tay, chân vì vỏ hàu rất sắc bén.

< Khai thác hàu sinh sống theo cống xổ tôm.

Riêng việc khai thác hàu tại các tảng đá ngầm ven Hòn Đá Bạc thì có phần khó khăn hơn. Do mực nước thủy triều trên biển xuống thấp, hàu sinh sống ở mực nước sâu nên đa số người khai thác phải lặn, phải trầm mình dưới nước mới có thể khai thác được. Thời gian gần đây, ngư dân xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển phát triển mạnh mô hình sản xuất nuôi hàu lồng để phát triển kinh tế gia đình nên hàu ở Cà Mau luôn đạt sản lượng lớn.

< Hàu nướng mở hành – một món ngon bổ dưỡng.
Dulichgo
Nhờ được sống trong môi trường tự nhiên giàu phù sa và sinh vật phù du nên hàu Đất Mũi Cà Mau lớn con, thân đầy ruột, thịt thơm ngọt đến lạ thường và không chê vào đâu được. Hàu là một là một loại hải sản, là một đặc sản ở vùng Đất Mũi Cà Mau. Thịt hàu là một loại thực phẩm tươi sống, là món ăn bổ dưỡng cho cả người lớn và trẻ em.

Hàu có thể chế biến được nhiều món ăn ngon như nấu cháo, nấu lẩu, xào giấm, tái chanh chấm mù tạc… Nhưng ngon nhất, hấp dẫn nhất là hàu nướng mỡ hành chấm muối tiêu chanh.
Về nơi cuối đất, du khách đừng bỏ lỡ cơ hội thưởng thức món ngon hải sản rất dân dã nhưng mang đậm hương vị của miền quê rừng biển – hàu Đất Mũi Cà Mau.

Theo Diễm Phương (Camau.gov)
Du lịch, GO!

Kỳ thú đầm Thị Tường

Từ thị xã Cà Mau đi theo con đường quốc lộ 1A về huyện Năm Căn độ 20km là đến Cống Đá. Ngay đó có bảng chỉ đường phía tay trái rẽ vào khu căn cứ Xẻo Đước. Xe chạy mười mấy cây số nữa là đến khu căn cứ, cũng là nơi tiếp cận với đầm Thị Tường (đầm Bà Tường), khu đầm tự nhiên lớn nhất, đẹp nhất của ĐBSCL.

Nằm vắt ngang hai huyện Cái Nước và Trần Văn Thời do phù sa bồi lắng của sông Mỹ Bình, sông Ông Đốc và nhiều kinh rạch khác, trước đây muốn đến đầm ta phải qua những con đường sông ngoằn ngoèo nhưng từ khi con lộ về Năm Căn được mở, đi đường xe đến đầm đã thuận tiện hơn bởi chỉ khoảng 40km.

< Đầm Thị Tường đẹp như một bức tranh.

Chúng tôi bước xuống chiếc đò máy nhỏ đi sâu vào đầm giữa. Đầm Thị Tường nhìn trên bản đồ như một quả bóng phình ra ở giữa, hai đầu hơi hẹp được phân ra đầm trong, đầm giữa và đầm ngoài. Đầm có chiều dài 10km, chỗ rộng nhất khoảng 2km.

Đầm thông ra biển Thái Lan qua sông Mỹ Bình. Ở đây là vùng nước lợ rất thích hợp cho sú, cua, rẹm sinh sôi, phát triển nên đa số dân ở đây sống bằng nghề chăn nuôi hải sản.
Dulichgo
Đi trên mặt đầm mênh mông, ta có thể thấy những nhà sàn nhỏ cách nhau chừng 100m. Đó là nhà ở để canh chừng mấy chục cái lú bắt tôm cá, bắt cua rẹm của các hộ dân. Cậu lái đò tên Khương cho biết mỗi hộ ở đây được chia 100m mặt nước để đóng đáy hay đặt lú.

< Mưu sinh trong đầm.

Nếu đặt lú thì được khoảng 50 cái, mỗi lú cách nhau 2m. Mùa này đang mùa rẹm (ghẹm) nên đi ngang qua các nhà đều thấy nhiều túi lưới đựng rẹm rộng dưới nước chờ bán cho khách.

Ngang qua một vùng nước cắm một hàng cọc trắng, Khương giải thích dân sống trên đầm giờ khấm khá hơn xưa nên có nhiều hộ bớt lú, cho dân từ Kiên Giang xuống thuê mặt nước nuôi sò huyết đó. Vậy là lại có thêm một đặc sản nữa nơi này.

Đò cứ chầm chậm chạy một vòng trên mặt đầm. Cảm giác cứ lâng lâng, sảng khoái giữa trời đất, sông nước mênh mông. Nghe nói cái tên Thị Tường hay Bà Tường của vùng đầm này cũng có nhiều giai thoại lắm.

< Nhà chòi trên đầm.

Từ truyền thuyết xa xưa về người phụ nữ dũng cảm xua đuổi chim chóc do Chúa Hổ sai đến tha đá lấp mặt đầm do không được vua Thủy Tề gả con cho đến chuyện thật người thật về dòng họ Tô gốc Bình Định theo Tây Sơn chạy vào đây khai khẩn khi triều Tây Sơn sụp đổ.
Dulichgo
Công lao khai thác ấp Nhà Di (xà di, dụng cụ bắt cá của người Khmer) và khu đầm khiến tên bà Tường (Tô Quý Thị) được lấy đặt cho đầm. Những cư dân xứ này hay kể lẫn lộn chuyện xưa, chuyện nay về đầm Thị Tường như vậy đó.

< Khu Nhà hàng Xẻo Đước.

Vào một căn nhà lợp lá trên có chữ “Nhà hàng Xẻo Đước”, chúng tôi vừa được cô chủ quán cho xem mấy loại đặc sản bắt được ở đầm. Vài con cá vồ chó, cá ngát ngo ngoe trong trúm, con nào cũng trên ký. Mấy con lịch củ nhìn giống lươn nghe nói thịt rất ngon. Còn cua, rêm thì nhà chòi nào cũng có.

Từ giã vợ chồng cô chủ quán hiếu khách, trên đường về cậu lái đò cho chúng tôi ghé nhà ông “Vua đầm” Hai Hùng. Hỏi sao gọi vậy?

Cậu lái đò cười: Chắc tại ổng làm ăn lớn. Vừa sú, vừa cá, cua, mùa này ổng thu nhập ngày có cả triệu. Khách du lịch hay ghé nhà ông, cả khách nước ngoài như Hàn Quốc, Tây Mỹ nữa! Ngay cây cầu rộng bước lên nhà Hai Hùng, đã thấy lú phơi đầy, dưới cầu cơ man là túi lưới rộng đám rẹm còn ngo ngoe càng.

< Nhà “vua đầm” Hai Hùng.

Kế bên trong vũng nước được bao lưới một bầy vịt trắng lốp đang bơi lội, bên trên rất nhiều nhánh củi to nhỏ phơi trong nắng. Gian nhà lót ván láng bóng, mái lợp lá xé mát rượi đúng kiểu nhà ở miệt này. Anh Hai Hùng vui vẻ chỉ chung quanh.

Mấy ông nhà báo, khách du lịch muốn ngủ lại thì cứ nằm trên sàn đây, vừa hứng gió biển vừa chụp hình mặt trời buổi sớm, buổi chiều. Anh chỉ lên vách. Đúng là cảnh bình minh thật đẹp trên bức hình.
Dulichgo
Cậu lái đò còn khoe người đang bủa lưới trên chiếc xuồng nhỏ chính là cha cậu. Một nhà báo quen thân nhiều lần xuống đây đã chụp để lại.

Ngồi trong căn nhà dài rộng này, giữa mênh mông sông nước, trước mặt là vị chủ nhà dáng vóc to lớn, bặm trợn lại đầy vẻ hào sảng trong câu nói, tiếng cười ta cứ ngỡ như mình đang sống thời khai hoang mở đất xa xưa.

Lên xe trở về thị xã, níu chân chúng tôi còn là những cọng bồn bồn tươi mới cắt, những keo dưa bồn bồn trắng nõn của huyện Cái Nước. Lại thêm một điều thú vị về xứ này!

Theo CHI LAN/DNSGCT
Du lịch, GO!

Mênh mông đầm Thị Tường

Thứ Năm, 5 tháng 11, 2015

Đặc sản mắm lóc Thới Bình

Ở tỉnh Cà Mau, khi nhắc đến mắm lóc, người ta sẽ nghĩ ngay đến mắm lóc Thới Bình, đây là địa phương làm mắm lóc ngon nổi tiếng. Mắm lóc là món ăn dân dã, mang đậm hương vị đồng quê, nếu ai đã từng ăn qua dù chỉ một lần thì cho dù có đi đâu, về đâu cũng không thể nào quên được mùi vị của nó.

Xưa kia, mắm lóc ở đây có đặc điểm không bao giờ có đầu, rất dễ phân biệt với mắm ở vùng khác. Vì vùng này cá nhiều vô kể, mỗi khi tát đìa, chụp đìa phải huy động cả xóm thức trắng đêm làm cá, nên phải cắt bỏ đầu để làm cho nhanh. Còn bộ lòng, trứng cá thì chủ nhà cất lại để làm món mắm lòng hay mắm trứng. Riêng món mắm lòng hay mắm trứng này chỉ khi nào có khách quý đến thăm thì chủ nhà mới đem ra khoan đãi.

< Mắm lóc chưng.

Phải rất công phu mới làm được con mắm ngon. Cá lóc làm sạch vảy, ruột và mang, rửa cho sạch nhớt rồi đem ướp với muối hột, để một thời gian cho muối thấm đều vào con cá.
Dulichgo
Khi muối đã thấm vào, người ta sẽ đem cá chao với nước đường, trộn thính (được làm từ gạo rang vàng, xay mịn) vào cho đều rồi đem ủ trong hủ hoặc khạp, dùng mo cau hoặc bọc nylon trãi trên mặt, ém thật chặt để khi đổ nước muối đã nấu lên trên để cá không bị thấm nước, đậy nắp lại cho kín, chờ đến khoảng 5 – 6 tháng thì có thể ăn được.

Mắm ngon nhất là mắm được ủ khoảng 6 tháng. Lúc này muối, đường, thính đã hòa quyện vào nhau làm cho con mắm đỏ au, vị mặn ngọt hòa lẫn, có mùi thơm đặc trưng.

< Lẩu mắm.
Dulichgo
Mắm lóc có thể chế biến thành nhiều món ăn ngon như: mắm chiên ăn kèm với thịt heo ba rọi, mắm kho, mắm chưng, mắm nấu lẩu, mắm trộn đu đủ…Ngoài ra, người ta có thể cắt thành những lát mỏng rồi đem trộn với chanh, tỏi, ớt, đường, bột ngọt để chế biến thành món mắm sống. Mắm sống phải ăn kèm với chuối chát, khóm, rau răm, ngò ôm, cà phổi hoặc trái bần xắt mỏng cùng với các món gia vị như gừng, tỏi, ớt…

Mắm lóc là món ăn dân dã, mang đậm hương vị đồng quê, nếu ai đã từng ăn qua dù chỉ một lần thì cho dù có đi đâu, về đâu cũng không thể nào quên được mùi vị của nó.

Theo Cổng TTĐT Tỉnh Cà Mau
Du lịch, GO!

Ngày nắng ở Diêm Điền

(TTO) - Cách Hà Nội hơn 100km về phía đông nam, Diêm Điền (Thái Bình) đủ xa để thoát khỏi phồn hoa phố thị, đủ gần để có thể “xách” trẻ con lên và đi. Tìm về một miền đất trong câu ca “rừng phi lao gió hát” để dù không kịp “tắm mắt trên bãi biển Đồng Châu” cũng có được một cuối tuần như ý.

Trên cánh đồng muối thôn Tam Đồng

Nếu đi dọc theo bờ biển duyên hải Bắc Trung bộ, sẽ không khó khăn gì để tiếp cận được một “cánh đồng muối”. Bên cạnh nhiều nghề như vận tải đường sông, đi khơi, đi lộng, thủ công mỹ nghệ, nông nghiệp và buôn bán thì “trồng muối” dù thu nhập bấp bênh vẫn luôn là một nghề không thể bỏ của bà con vùng ven biển.

Từ thị trấn Diêm Điền, chúng tôi chạy dọc theo triền đê và cắt qua làng để tới thôn Tam Đồng, xã Thụy Hải, huyện Thái Thụy. Toàn cảnh cánh đồng muối không đẹp như thơ, cũng không đẹp như mơ như hàng trăm bức ảnh mà các nghệ sĩ nhiếp ảnh khắp cả nước đã dày công “săn, chụp”. Có lẽ vì quy mô của cánh đồng chưa đủ lớn. 

Ấn tượng đầu tiên là cỏ dại, cỏ lau mọc lúp xúp, cao cao, thấp thấp phủ lên những lối mòn. Đây đó nhà cửa, cây lớn chia cánh đồng ra làm nhiều lô, mỗi lô lại được bờ ruộng phân chia theo từng mục đích sử dụng: đồng phơi cát, đồng phơi muối, công trình thủy lợi dẫn nước biển vào đồng, bể chắt lọc, bể nước chạt nồng độ cao, thấp trên đồng lô nhô.
Dulichgo
Một ngày nắng to nhưng không phải cánh đồng muối nào cũng có người lao động. Lác đác trên đồng mỗi người một công đoạn, bên này có người đang rải cát thì bên kia tưới nước biển lên bề mặt sân phơi, người lúi húi kiểm tra nước chạt ở chỗ chứa gọi là thống con, thống cái, người lại lúi húi thu gom từng hạt muối trên ô kết tinh.

Mặt sàn ô kết tinh bằng ximăng, có màu ánh đỏ. Những ô nào đang phơi nước chạt thì muối dần kết hạt trắng li ti dưới sức nóng của mặt trời. Ô kết tinh nào đã đủ đầy để thu hoạch thì được cào gom lại thành từng đống nhỏ, cuối ngày cho lên xe cút kít chở về kho. Ở Tam Đồng không thấy có những kho chứa muối lợp mái rơm lúp xúp, có lẽ vì sản lượng ít, khi tôi hỏi một ngày như này thu hoạch được bao nhiêu, người phụ nữ vẫn chăm chú cào muối vừa lắc đầu như tự bảo, được bao ký đâu cô ơi!

Trên cánh đồng, dưới chiếc nón lá, khăn trùm kín mặt, áo dài tay, chân đi ủng, những người phụ nữ cần mẫn với công việc đồng áng, vẫn trả lời vui vẻ khi bị đám khách ở đâu đến “quấy rầy”, chỉ bảo và giải thích về các công đoạn làm muối cho đám trẻ. Bầu trời rất xanh và đám cỏ lau lấp lánh trong nắng. Không hoàn hảo mỹ miều như những bức ảnh chụp cánh đồng muối khi bình minh, hoàng hôn với những ụ muối vun cao, tràn trề, no đủ, trên mảnh đất của thôn Tam Đồng, những câu chuyện và hình ảnh giản dị nhất về cuộc sống cứ thế đi thẳng vào tim.

Cảng cá Tân Sơn

Anh bạn người Thái Bình công tác tại Diêm Điền dẫn chúng tôi ghé qua cảng cá Tân Sơn. Con đường chạy dọc sông Diêm Hộ, rời thị trấn tại bến Don, nơi những con thuyền tụ về bên mấy cây cầu khỉ, bèo tây phủ kín mặt nước. Ở phía biển, hải đăng Tân Sơn giản dị và bé nhỏ, đêm ngày âm thầm làm kim chỉ nam cho thuyền bè vào bến. Người dân ở chợ cá có người không biết cuối con đường có ngọn hải đăng, họ nói đó là “cây đèn biển”.

Chúng tôi dừng lại ở chợ cá một lúc. Vài người tụ lại dưới lán tre đánh bài tú lơ khơ trong khi chờ tàu cá về, người khác dọn dẹp, gột rửa sàn nhà, nền đường, người chuyển hàng vào xe đông lạnh. Dưới sông, thuyền bè neo đậu san sát, xếp dọc bờ đê, lá cờ đỏ bay phấp phới trên nền trời xanh ngắt mang lại một khung trời rực rỡ khiến ai cũng trở nên phấn khích.
Dulichgo
Tôi đứng sát mép nước, bắc tay hú gọi bọn trẻ đang đánh lưới trên sông trong màu nắng lấp loáng. Một vài chiếc thuyền lớn đang di chuyển, tiếng máy nổ ầm ĩ cả khúc sông, tưởng như kéo bạt lời tôi ra biển. Chiếc phao xốp chòng chành bơi men theo lớp bèo tây, một người đẩy, hai người kéo, lưới thu về đầy tay, không biết hôm nay sẽ đánh bắt được bao nhiêu tôm cá.

Triền đê dài hun hút trong chiều nắng. Những nong phơi cá cơm xếp dọc bên đường từ xã Thụy Hải vào đến cảng cá ven thị trấn. Đám trẻ lít nhít cẩn trọng đi từng bước trên bờ kè, hân hoan trong không gian khoáng đạt mặn mòi vị biển. Bạn bảo sáng mai sang chơi chợ sớm, quãng 4-5 giờ, để thấy tàu bè vô cảng, tôm cá đầy khoang, phiên chợ thủy hải sản tươi roi rói, hải sản "xịn", giá cả lại hợp lý, ở thành phố có tiền cũng khó có thể mua. 

Lối về Cồn Đen

Chiều chậm chạp lướt qua. Chúng tôi quay xe sang bên kia sông Diêm Hộ đi về phía Cồn Đen. Qua cảng Diêm Điền một thời sầm uất liệt oanh, giờ hết đường “buôn lậu” trở nên cô độc và buồn tẻ, cỏ dại mọc cao ngang bắp chân người. Dấu ấn của cây cầu Diêm Điền cũ đã bị con tàu ngàn tấn tuột neo trong bão đâm gãy năm 2012 vẫn còn bên cạnh cây cầu Diêm Điền mới thênh thang.

Được đi cùng với một hướng dẫn viên không chuyên người bản địa gốc Thái Bình thật sự rất thú vị. Anh chia sẻ với chúng tôi những dự định mới cho cảng Diêm Điền, khi giao thông đường thủy đã dịch chuyển hết về phía Hải Phòng, Quảng Ninh. Bên này sông là một kho xăng dầu lớn, tựa như tương lai của cảng Diêm Điền. Từ trên đê đi Thái Thượng nhìn sang sông là cảng cá Tân Sơn trong chiều, thuyền bè giờ này đang ngơi nghỉ.

Cồn là một khái niệm để chỉ một dải đất được hình thành giữa sông cái do sự bồi đắp của phù sa và lắng đọng của trầm tích được vận chuyển theo các dòng hải lưu. Cồn Đen thuộc xã Thái Đô, huyện Thái Thụy, Thái Bình được bồi đắp bởi phù sa và bùn cát của sông Trà Lý.

Thoạt tiên, tôi nghĩ muốn ra cồn nhất định phải cần đến tàu, thuyền. Nhưng bạn tôi nói ôtô sẽ ra tận Cồn Đen. Thì ra chủ đầu tư khu du lịch sinh thái Cồn Đen đã mở một con đường lớn ra đến sát biển, quy hoạch một khu nghỉ dưỡng có bãi tắm biển, khu vui chơi, nghỉ dưỡng.
Dulichgo
Dọc theo cồn cát là rừng thông xanh, bên trong là hệ thống sinh thái ngập mặn ven biển đa dạng, độc đáo, được khai thác nuôi trồng thủy sản với giá trị kinh tế cao. Chiều Cồn Đen lộng gió, chúng tôi dạo bước trên con đê chắn sóng. Thủy triều lên cao che lấp cả bãi cát, xa xa là những chòi nuôi ngao bé xíu in bóng trên nền chiều. Bọn trẻ đòi xuống thuyền để chèo vào tham quan khu rừng ngập mặn.

Hoàng hôn dần buông trên ngọn đèn biển Tân Sơn, một cái kết êm đềm cho hành trình ngày nắng ở Diêm Điền, thú vị và bằng an.

Theo Băng Giang (Dulich.Tuoitre)
Du lịch, GO!

Dã quỳ vàng rực không chỉ có ở Đà Lạt

Không chỉ Đà Lạt, nhiều nơi khác như Pleiku và một số tỉnh phía Bắc cũng được xem là những nơi lý tưởng để 'săn' dã quỳ trong tháng 11 này.

Tháng 11 là thời điểm hoa dã quỳ nở rộ và đẹp nhất, báo hiệu một sự chuyển giao mùa từ thu sang đông.

Nếu bạn từ lâu đã trót yêu loài hoa dại này hãy lên kế hoạch đi ngay và luôn trong tháng để thưởng ngoạn những khoảnh khắc sắc vàng rực rỡ nhất. Dưới đây là những điểm đến ngắm dã quỳ đẹp nhất khắp ba miền tổ quốc.

Đà Lạt, Lâm Đồng

Thành phố ngàn hoa Đà Lạt mang trong mình sự thơ mộng và quyến rũ từ chính những sắc hoa đặc trưng vốn có, ấy vậy mà chỉ có dã quỳ mới đủ sức cuốn hút nhiều phượt thủ, du khách lũ lượt kéo về nơi cao nguyên thưởng ngoạn trong những ngày cuối thu, đầu đông. Khắp các ngọn đồi, thung lũng, con đường cho đến những ngóc ngách đường mòn, khu du lịch… ở Đà Lạt bắt đầu được phủ một màu vàng tươi thắm của loài hoa này.
Dulichgo
Nếu kế hoạch của bạn chỉ vòng quanh thành phố thì ghé đến các khu du lịch như Suối Vàng, Thung lũng tình yêu… để ngắm. Còn nếu nhiều thời gian hơn, hãy ra các khu ngoại ô. Những cung đường đẹp để săn dã quỳ phổ biến nhất ở Đà Lạt thường là đèo D’ran và cao tốc Liên Khương; đường đèo Phú Hiệp - đường đi Tà Nùng - suối Thông, làng hoa Vạn Thành và cung đường thác Voi - Langbiang…

Pleiku, Gia Lai

Bên cạnh Đà Lạt, Gia Lai cũng là điểm đến để ngắm dã quỳ quyến rũ ở vùng Tây Nguyên. Tháng 11, khu vực Biển Hồ sẽ trở nên thú vị và hấp dẫn hơn khi khoắc lên mình một vẻ đẹp khác - vẻ đẹp hoang dại nhưng đầy rực rỡ của dã quỳ khoe sắc.

< Dã quỳ vàng hực ven biển hồ Pleiku.

Ngoài việc chiêm ngưỡng những thảm hoa dã quỳ rực vàng, bạn còn có thể đến đây để thưởng ngoạn cảnh vật và cảm nhận thời tiết se se giữa phong cảnh đẹp tuyệt vời của rừng thông xanh mát.
Dulichgo
Bên cạnh Biển Hồ, những tuyến đường Tô Vĩnh Diện, Bùi Viện, Lê Duẩn… ở Gia Lai cũng là điểm đến cho những người yêu thích chụp ảnh hoa dã quỳ.

Ba Vì, Hà Nội

< Dã quỳ đang phủ sắc vàng trên sườn núi Ba Vì.

Dù không nổi tiếng như Đà Lạt, nhưng hoa dã quỳ ở Ba Vì cũng quyến rũ và lôi cuốn du khách bao du khách phải say mê. Đến Ba Vì, không chỉ có dịp ghi lại khoảnh khắc đẹp của dã quỳ bung nở mà còn tận hưởng không gian mát mẻ của Vườn quốc gia, ngắm cảnh hùng vĩ nơi núi Tản Viên.

Trên cung đường lên đỉnh núi Ba Vì, Ba Vì Resort, khu vực đồi 700… là những địa chỉ có nhiều hoa dã quỳ nhất bạn nên ghé thăm.

Điện Biên

< Hoa dã quỳ ở Điện Biên.

Ở một số con đường làng, những con đường mòn ở Điện Biên mùa này cũng có hoa dã quỳ nở. Không nhiều nhưng từng đó cũng đủ để lay động những tâm hồn yêu hoa của du khách vùng Tây Bắc.

Một số tuyến đường tập trung dã quỳ nhiều ở Điện Biên không thể bỏ lỡ là đường vào Mường Phăng, đường Điện Biên Đông đoạn qua đèo Keo Lôm và ngã ba Bình Lư trên quốc lộ 4D rẽ sang quốc lộ 32 hướng đi Mù Căng Chải.

Lạng Sơn
Dulichgo
Không nhiều người biết rằng ở một số khu vực tại tỉnh Lạng Sơn như đèo Sài Hồ, vùng nằm giữa huyện Chi Lăng và thành phố Lạng Sơn, vùng núi Cao Lạng, đèo đi qua Cao Bằng… cũng được xem là điểm đến tuyệt đẹp để ngắm dã quỳ trong khung cảnh thơ mộng, đẹp như tranh vẽ.

Mộc Châu, Sơn La

Khi hoa dã quỳ ở Đà Lạt sắp tàn thì mùa dã quỳ nơi Mộc Châu mới khoe sắc vào cuối tháng 11 và đầu tháng 12, khi mà cái lạnh trở nên rõ rệt và sương mù dày đặc hơn.

Những con đường ven triền núi, dẫn vào bản thôn, bản làng, quốc lộ 6, xung quanh thị trấn Mộc Châu, khu vực đồi chè Tân Lập, Ba Phách,…được tô thắm một màu vàng tươi của loài hoa dã quỳ, làm xoa dịu cái lạnh của vùng đất này.

Theo Xuân Lộc (Ngôi Sao), ảnh internet
Du lịch, GO!