Hiển thị các bài đăng có nhãn Chuyến đi kỳ thú. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chuyến đi kỳ thú. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 11 tháng 12, 2015

Về miền sơn cước Mã Đà

(DNSG) - Cách TP. Hồ Chí Minh 90km, rừng Mã Đà thuộc huyện Vĩnh Cửu tỉnh Đồng Nai không chỉ nổi tiếng với những di tích lịch sử mà còn hấp dẫn du khách bởi rừng nguyên sinh bạt ngàn và hồ Trị An với nhiều sản vật độc đáo. 

Khám phá thiên nhiên hoang sơ, đốt lửa trại, tận hưởng nồi lẩu rau rừng hay buổi hạ trại ven bờ hồ lộng gió… là những hoạt động đặc trưng thu hút du khách về với miền sơn cước Mã Đà.

Khởi hành từ buổi sáng sớm, men theo quốc lộ 1, đoàn chúng tôi rẽ trái ở ngã ba Trị An sang tỉnh lộ 767 đi Vĩnh Cửu. Đây là cung đường tuyệt đẹp dành cho những ai thích đi phượt bằng xe máy vì đường vắng, khá quanh co, đồi dốc… Một bên là sông Đồng Nai lộng gió mát, khung cảnh hữu tình, một bên là những cánh đồng xanh mướt và những ngọn đồi nhấp nhô. Cứ thế, bóng dáng nhà dân cứ xa dần.

Đến chốt kiểm lâm, chúng tôi đi vào cung đường xuyên rừng khó nhất để đến với rừng Mã Đà. Dù chỉ dài khoảng 10km, đây là đoạn đường thách thức kể cả những tay lái nhiều kinh nghiệm.

Con đường đỏ rực màu đặc trưng của đất đỏ miền Đông khá trơn trượt sau cơn mưa rừng tối qua. Vài đoạn, những vũng lầy đọng nước đỏ ngầu tung tóe khi đoàn xe chạy qua. Chúng tôi đi chậm, vừa đủ để ngắm rừng cây xanh và những bụi lồ ô khổng lồ ven đường, lâu lâu, xe phải dừng lại để dọn những chà tre khô chắn ngang. Đường vắng, cả đoàn thong dong nhưng đến nơi đã gần trưa.

Khu bảo tồn Thiên nhiên Văn hóa Đồng Nai đón cả nhóm trong màu xanh ngút tầm mắt. Những cây cổ thụ mấy người ôm cùng dây leo chằng chịt thu hút mọi người chụp hình không ngơi tay.
Dulichgo
Rộng hơn 100 ngàn hécta với hơn 67 ngàn hécta đất rừng, 32 ngàn hécta mặt nước (hồ Trị An), khu bảo tồn này là nơi du khách có thể khám phá thiên nhiên hoang sơ của rừng Mã Đà và thăm thú các điểm di tích lịch sử như Trung tâm Sinh thái Văn hóa Lịch sử Chiến khu Đ, di tích căn cứ Khu ủy miền Đông…

Theo chân cán bộ kiểm lâm, chúng tôi bắt đầu hành trình khám phá rừng. Trời lúc này là giữa trưa nắng, thế nhưng cảm giác đi bộ giữa rừng thật mát mẻ và thơ mộng.

Rừng Mã Đà nổi tiếng là nơi cư trú của nhiều động vật hoang dã. Đoàn chúng tôi bắt gặp một đàn bướm vàng bay lượn trong không trung. Lâu lâu, mấy con sóc nhỏ tíu tít gọi nhau trên những tán cây. Đâu đó trong không gian xanh là tiếng hót lảnh lót của hàng chục loại chim trời, có con dạn dĩ xuống tận nơi đoàn đang dừng chân.

Càng đi, màu xanh của rừng càng khiến chúng tôi choáng ngợp. Không biết cơ man nào nhưng cây gõ đỏ, dầu, bằng lăng cao vút, bệ vệ giữa không trung. Đặc biệt nhất có lẽ là cây trung quân, loại cây có lá không bao giờ bị đốt cháy. Trên đường đi, mọi người còn hái được một số rau rừng như tàu bay, bìm bịp, chùm bao, chùm ngây, khổ qua rừng, bình bát…

Tại rừng Mã Đà, người ta có thể thưởng thức được hơn 40 loại rau rừng các loại, trong đó rau bìm bịp không chỉ ngon, ăn kèm các món lẩu mà còn được xem là một vị thuốc quý theo dân gian, có tác dụng chữa bệnh gút, giảm đau, hạ sốt, chống viêm. Tên rau bìm bịp có lẽ bắt nguồn từ câu chuyện kể về chim mẹ hái lá bìm bịp nhai nhỏ đắp lên vết thương cho những chú chim non.
Dulichgo
Đến với rừng Mã Đà, chúng tôi không thể bỏ qua những món đặc sản làm nên thương hiệu của khu bảo tồn này như tép um rau rừng, khô cá kìm bóp gỏi xoài, cá lăng nướng ăn kèm các loại rau rừng…

Đặc biệt nhất phải kể đến là món lẩu măng chua cá lăng – rau bìm bịp. Để chế biến món này, cá lăng vừa bắt trên hồ Trị An phải còn sống, bìm bịp phải là rau ngọn non vừa mới hái còn xanh um, khi ăn chỉ cần trụng qua nước đang sôi.

Dù được chế biến đơn giản, lẩu vẫn rất hấp dẫn du khách bởi thịt cá lăng tự nhiên săn chắc, ngọt thơm. Buổi tối, cả đoàn quây quần bên đống lửa trại tí tách, thưởng thức nổi lẩu cá lăng rau bìm bịp thơm lừng cùng với những món ăn đặc sản từ các loại rau rừng mà thấy ấm lòng.

Sáng hôm sau, đoàn chúng tôi dành trọn thời gian thưởng ngoạn bình minh trên hồ Trị An. Ngoài khung cảnh nên thơ, tĩnh lặng, hồ Trị An là nơi du khách có thể trải nghiệm cảm giác trở thành ngư phủ khi được cùng ngư dân câu cá, thả lưới bắt tép, đánh cá trên hồ… Với dân thành phố, một bữa giăng lưới bắt tép nhẹ nhàng của ngư phủ cũng khiến cả đoàn mệt nhoài.

Bữa cơm trưa trên bè cá vì thế thật rôm rả và ngon miệng. Thú vị nhất có lẽ là việc thưởng thức những món ăn được chế biến từ cá cơm, cá lăng, cá lóc, cá hoàng đế… do chính tay mình đánh bắt.

Thời gian đẹp nhất để tham quan Khu bảo tồn và rừng Mã Đà thường từ tháng 10 đến tháng 6 năm sau. Đây là khoảng thời gian không khí mát mẻ, khô ráo để du khách khám phá trọn vẹn những địa điểm thú vị tại đây. Đêm sẽ hơi lạnh nhưng bếp lửa luôn ấm và những câu chuyện, những món ngon ở rừng sẽ luôn độc đáo và hấp dẫn.

Theo Doanh Nhân Sàigòn
Du lịch, GO!

Thứ Bảy, 5 tháng 12, 2015

Cung đường trà cổ

(DNSG) - Thiên nhiên ban tặng cho vòng cung du ngoạn nối từ Đông sang Tây Bắc trên đất Việt một báu vật quý giá là các vùng trà cổ thụ. Thiên tạo cũng hữu ý khi sắp đặt những miền tiên cảnh, đẹp tuyệt trần nơi vùng trà, điểm xuyết cho hành trình theo dấu cây trà cổ thụ miền cao luôn là một chuyến đi kỳ thú...

< Đường vào vùng trà cổ thụ Tủa Chùa.

Việt Nam đang vinh dự sở hữu những cây trà san tuyết cổ thụ quý hiếm của ngành trà thế giới, với độ phân bố khá đồng đều trải dài qua các tỉnh Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Sơn La, Điện Biên.

Điểm chung về nơi sinh trưởng của giống trà san tuyết cổ thụ là những vùng núi có độ cao trung bình từ 1.000m trở lên, và càng mọc trên núi cao, chất và lượng trà càng thêm giá trị nhờ hấp thụ dưỡng chất và tinh hoa của sương núi, mây trời.

< Đoàn Hùng Sơn cùng những người bạn trong chuyến khám phá vùng trà cổ thụ trong rừng Hoàng Liên.
Dulichgo
Từ chuyện về trà cổ thụ, những hành trình trải nghiệm phong vị các miền trà dần được những người yêu trà, yêu thiên nhiên, đam mê khám phá nhập cuộc. Trong từng hành trình, cây trà là điểm nhấn, là cái cớ để lữ khách phiêu du theo những danh thắng và đậm nét hoang sơ nơi các miền trà cổ.

"Cụ trà” Hoàng Liên

Được phát hiện muộn nhất trong dải trà cổ thụ thuộc các nước khu vực Đông Nam Á, vùng trà rừng Hoàng Liên mọc trên cao độ hơn 2.500m, xen với tán rừng già nên các cây trà thân to hơn người ôm, cao vút hơn 30m.

Để đến được rừng trà, điểm khởi hành lý tưởng sẽ từ Trạm Tôn, theo đường lên đỉnh Fansipan (Phanxipang), khi qua cao độ 2.200m rẽ đường mòn bên trái sẽ dẫn lối đến rừng trà cổ thụ.

Nghe qua hành trình khá đơn giản, nhưng đến được vùng trà nhanh phải mất hơn nửa ngày đường với đủ gập ghềnh của một chuyến dã ngoại khi hoà mình cùng thiên nhiên. Nhiều nhóm đam mê trà cổ thụ đã tìm đến rừng trà cổ này, trong đó có Đoàn Hùng Sơn cùng những người bạn đến từ Hà Nội.

< Gốc trà cổ có lớn nhất ở bản Hấu Chua, Tủa Chùa.

Chuyến đi đậm chất phiêu lưu lên vùng trà cổ rừng Hoàng Liên, ngoài việc diện kiến được các cây trà đại thụ của Việt Nam, với Sơn còn mang một ý nghĩa khác được anh chia sẻ: "Tôi tự hào lắm khi chứng kiến cả một rừng trà dày đặc trên độ cao 2.500m so với mặt nước biển với những gốc trà 2 - 3 người ôm, có thể nói không đâu trên thế giới có rừng trà lâu đời như các "cụ trà” nơi đây. Tôi đã lấy mẫu lá (đều là lá già) đưa về Hà Nội thưởng thức và so sánh với trà tươi truyền thống mới thấy sự khác lạ rõ rệt từ hương thơm ngọt nhẹ đến vị ngọt bùi, không ngái và có mùi hăng như trà truyền thống, đem lại cảm giác vô cùng sảng khoái. Đun lâu nước trà vàng sánh, sáng lấp lánh, đây cũng là lúc vị trà uống ngon nhất vì các chất trong lá mới tan hết".

< Người Hmông ở bản Mống Và sao trà pha đãi khách.
Dulichgo
Anh cũng đem mẫu lá trà gửi đi phân tích các thành phần hoá học chủ yếu và được các chuyên gia trong ngành trà đánh giá cao về chất lượng vượt trội của trà cổ thụ so với các loại trà hạt trung du, bao gồm: Tanin 9,25%, chất hoà tan 22,13%, cathechin 98mg/g, đạm 2,16%, cafein 1,75%...

< Người Hmông ở bản Mống Và sao trà pha đãi khách.

Những thông số này khẳng định đây chính là giống trà cổ thụ quý hiếm và cần được bảo tồn, gìn giữ như một báu vật của ngành trà Việt.

Lên miền cao nguyên đá Tủa Chùa

Từ trung tâm Điện Biên đến Tủa Chùa là khoảng cách hơn 250km nhưng cung đường này gần như bị bỏ quên trong danh sách phượt xe máy theo vòng cung Đông - Tây Bắc, cho đến khi những thông tin về vùng trà ở tận cùng Tủa Chùa, tiếp giáp với địa phận Sơn La được giới thiệu là vùng trà cổ thụ mọc dày đặc, với các thân trà to đến ba người ôm, đã gây hấp dẫn và từ đó định hình thêm một cung đường khám phá thú vị nữa.

Qua trung tâm huyện Tủa Chùa, những dằn xóc với ổ gà, ổ voi dễ làm nản lòng các tay lái, nhưng khi gần đến Tả Sìn Thàng, những cảnh thần tiên bắt đầu mở ra.

Trước hết là sự thanh bình, yên ả của những cung đường uốn lượn theo vách núi, kế đến là những cao nguyên đá tai mèo dần lộ diện, ngày một dày đặc, nhìn quanh đâu cũng là những phiến đá đủ hình thù, phủ màu xám đen đầy huyền bí, mọc chen trong nương ngô của người H'mông trên miền cao Tủa Chùa, tạo nên bức tranh quyến rũ.

Thật dễ gây ngạc nhiên cho lữ khách bởi không ngờ rằng Tủa Chùa cũng có một cao nguyên đá tai mèo có thể sánh với cảnh đẹp cao nguyên đá Hà Giang.

Tả Sìn Thàng hấp dẫn lữ khách với những đặc sản là món thịt heo muối cùng rượu Mông Pê trứ danh của người Phạng Khoang - một nhánh của người Hoa.

< Chợ phiên Tả Sìn Thàng trên cung đường vào miền trà cổ Tủa Chùa.

Nơi đó còn có một chợ phiên đặc sắc, họp 6 ngày một phiên với người tham gia đa phần là H'mông đen, với nét dễ nhận nơi trang phục khăn tím, váy áo đen, tạo điểm nhấn nổi bật trong những ngày họp chợ. Và trong phiên chợ ấy, ngoài các sản vật địa phương như thịt thà, rau củ quả, món không thể thiếu chính là trà cổ thụ.
Dulichgo
Từ Tả Sìn Thàng vào đến vùng trà mất khoảng 10km đường núi, đây là cung đường được các tay lái ưa chuộng bởi có độ thử thách cao, những lớp mây núi dày đặc thoắt ẩn thoắt hiện, khiến mặt đường trơn nhẫy, chỉ sơ suất nhỏ thì những vẻ đẹp của vực sâu vách đá sẽ thành cái bẫy nguy hiểm.

Trà ở Tủa Chùa được ước tính còn khoảng 7.000 cây, mọc khá tập trung, nhiều nhất ở Hấu Chua. Đây cũng là địa danh cuối cùng của Tủa Chùa tiếp giáp với Sơn La, cung đường du ngoạn vào đến bản Hấu Chua là buộc phải quay trở lại vì là đường cùng.

Những cách trở đường sá khiến đặc sản trà cổ thụ Tủa Chùa - nước ánh vàng như mật, vị chát đậm và hậu ngọt đặc trưng - vẫn còn xa lắm với người thưởng trà miền xuôi.

Biển mây Tà Xùa

Rời Điện Biên qua Sơn La, cung đường từ Bắc Yên lên đỉnh Tà Xùa những ngày nắng đẹp, cứ như được lướt trên bồng bềnh của mây, với bên phải là đỉnh Hồng Ngài, bên trái là đỉnh Tà Xùa – nơi có vùng trà cổ thụ quý hiếm của người H'mông bản địa ở hai bản Chung Trinh và Mống Vàng.

Từ trung tâm huyện Bắc Yên, hành trình chinh phục Tà Xùa với cung đường núi chỉ chừng 15km là đến được vùng trà cổ thụ, và cung đường ấy cũng là một trải nghiệm đầy lý thú, đủ độ khó và lắt léo, pha lẫn nhiều nguy hiểm cho các tay lái khi phải gồng người nài xe lên những con dốc cao ngửa mặt, đồng thời cũng "chiêu đãi" cho hành trình bởi những cảnh thần tiên.

Thời điểm lý tưởng để lướt cùng biển mây Tà Xùa thường khi nắng đã lên cao, hơi ấm đủ làm tan sương trên đỉnh núi, chỉ còn lại những đụn mây nơi lưng chừng, để rồi khi lên đỉnh núi, nhìn ra phía xa là mảng trắng muốt của mây đang bồng bềnh trôi dưới chân mình, Tà Xùa khi ấy trở nên quyến rũ nhất.

Khi đã chán chê mê mỏi với "vơ vẩn cùng mây", con đường núi sẽ dẫn lối đến bản Mống Vàng nơi có những nóc nhà của người H'mông - chủ nhân của vùng trà san tuyết cổ thụ Tà Xùa.

< Những gốc trà san tuyết cổ thụ mọc san sát ở bản Hấu Chua.
Dulichgo
Một chuyến khám phá phong vị Tà Xùa bằng việc gùi quẩy tấu (một loại giỏ đan bằng tre) để theo người bản địa đi hái lá trà tươi từ các gốc trà to cỡ người ôm, đem về bản sao trên chiếc chảo gang để cảm rõ mùi khói, mùi trà thoảng hương, cùng những thấm thía của hành trình chinh phục đỉnh Tà Xùa. Chỉ loáng cái, mẻ trà được sao khô, vò kỹ để cánh trà xoăn tít lại, được chủ nhân thong dong đem pha đãi khách.

Ngồi trước bốn bề mây núi, từng cánh trà vẫn còn hơi nóng khi đem pha, cho ra màu nước xanh biếc, nhấp từng ngụm nhỏ đánh thức các giác quan để rồi đón nhận sự khoan khoái, dễ chịu từ những hoà quyện của không gian, thời gian, của báu vật là từng chén trà cổ thụ Tà Xùa dễ tạo một cảm giác lâng lâng như say cảnh tiên miền hạ giới, để khi trở về, vị ngon của trà cùng cảnh tiên nơi Tà Xùa sẽ là một hành trình nhớ mãi.

Theo Lam Phong (Doanh Nhân Sàigòn)
Du lịch, GO!

Thứ Sáu, 4 tháng 12, 2015

Đà Lạt, có một mùa hồng...

(TTO) - Cuối tháng 11, đầu tháng 12 (*), mùa của những cơn gió mùa đông, mùa của những cây hồng trụi lá. Mùa đẹp nhất của những vườn hồng Đà Lạt. Lên Đà Lạt ngắm hoa dã quỳ cuối mùa, du khách cũng có thể ghé qua ngắm các vườn hồng đầy trái chín đỏ ở khắp ngoại ô Đà Lạt.

< Hồng vuông, loại dùng ép làm hồng khô cuối mùa.

Mùa này ngao du xe máy những con đường phủ mờ đất đỏ trong cái lạnh đầu đông xứ mù sương, lấp lánh trong nắng là những trái hồng thắp lửa trên cành. Còn nhớ cách đây không lâu, thông tin trên báo nói về giá hồng Đà Lạt bị rớt giá mạnh, hồng giòn, hồng trứng các loại thu mua từ nhà vườn giá chỉ còn 2.000 - 3.000 đồng/kg.

Tại khu vực trồng hồng lớn nhất tỉnh Lâm Đồng là thị trấn D’ran, huyện Đơn Dương và khu vực xã Xuân Trường (TP Đà Lạt), giá hồng giòn, hồng trứng các loại được chủ vựa thu mua sỉ từ nhà vườn chỉ còn 2.000-3.000 đồng/kg, giảm khoảng 300% so với mức giá đầu vụ.

Điện thoại hỏi thăm một người bạn có cửa hàng trái cây và hoa ở D’ran, bạn vẫn tươi vui: "Những loại  hồng rớt giá là loại dở chị ạ, trên Đà Lạt người ta không ăn nữa". Rồi bạn giải thích thêm: "Đó là loại hồng trứng lốc, thịt bở và vị lạt. Chất lượng thấp nên giá rẻ. Hồng loại ngon vẫn bán rất chạy". Buông điện thoại xuống lại nhớ những chuyến đi về Đà Lạt vào tháng 10, 11.
Dulichgo
Mùa này luôn có những cung đường ngao du xe máy qua những vườn hồng đầy trái chín đỏ trên các con đường đi vào xã Xuân Trường (đồi trà Cầu Đất), hay những khu vườn ở gần khu vực dinh III Bảo Đại (đường Triệu Việt Vương, phường 2) vào khu vực đèo Mimosa (đường đèo Prenn cũ)...

Cũng như khu vực D’ran, những con đường êm êm phủ mờ đất đỏ trong cái lạnh đầu đông với nắng vàng rực rỡ. Và lấp lánh trong nắng là những trái hồng thắp lửa trên các cành. Những vườn hồng đầy trái này, chủ nhân thường để ngỏ cửa. Thậm chí rất vui vẻ đón những du khách đến tham quan, chụp hình lưu niệm, thưởng thức trái chín tại chỗ và mua về làm quà cho người thân. Chỉ có điều bạn không nên tùy tiện vào mà không xin phép, cũng như bẻ trái mà không hỏi qua người vun trồng.

Một chủ vườn ở khu vực đèo Mimosa giải thích: "Không phải cứ thấy hồng chín đỏ trên cây là ăn được. Có khi còn chát nên để đó chưa hái. Muốn ăn hồng ngon nên nói qua để được hướng dẫn, chứ người Đà Lạt hiếu khách không tiếc gì vài ký hồng. Vào không hỏi ai, chụp hình tạo dáng rồi bẻ lung tung, về vừa không ăn được lại tạo ấn tượng xấu”.

Những người Đà Lạt xưa nói rằng cây hồng đến với vùng đất nầy từ nhiều nguồn, theo từng thời kỳ. Nhưng có lẽ chính thức là vào năm 1889, khi người Pháp lập một vườn ươm giống tại khu vực Dankia. Rồi năm 1933 khi Đà Lạt có đường xe lửa rồi xe hơi, cây hồng được trồng thêm nhân rộng ra. Khoảng năm 1956 cho đến năm 1975 đã có rất nhiều giống hồng Nhật, Mỹ... được đưa về, ươm trồng trên đất Đà Lạt.
Dulichgo
Người Đà Lạt xưa thích trồng hồng vì ngoài chuyện sống lâu, ít sâu bệnh. Trước mùa trái sẽ là mùa hoa thơm ngát (mùa hoa thường vào tháng 6, tháng 7), để sau hai tháng bắt đầu kết trái và ửng chín. Mùa hồng chín rộ nhất là độ cuối tháng 9, tháng 10. Những người Đà Lạt xưa còn kể ngày xưa trái hồng Đà Lạt khi chín thường có màu vàng cam chứ không phải hồng đỏ như hiện nay. Tùy theo nhà vườn trồng mà cây hồng có nhiều loại và tên cũng khác nhau.

Loại được ưa chuộng là hồng vuông và hồng bánh xe. Hồng vuông trái to, ăn giòn và ngọt. Còn hồng bánh xe khi chín ăn vừa dẻo, vừa ngọt vừa thơm vị đường. Nhưng muốn ăn từ trên cây thì phải để cho trái chín thật chín, còn nếu không sẽ bị chát. Chính vì thế hồng tươi ở Đà Lạt ngày xưa thường ít có, chỉ có hồng khô và hồng sấy.

Còn ngày nay, cây hồng Đà Lạt có rất nhiều giống và chủng loại mới. Nhưng gọi chung lại có hồng nước, gồm các loại hồng dẻo, hồng dai (còn gọi là hồng trứng vì trong thịt có nhiều nước). Loại này thường ăn tươi, ép nước, ngâm rượu và cả làm giấm hồng (loại giấm dành cho các món rau trộn Đà Lạt).

Hồng giòn, loại được ưa chuộng nhất, còn được gọi là hồng vuông, hồng chén hay còn gọi là hồng ngọt. Loại này đang bị những trái hồng Trung Quốc to tướng, vuông vắn mạo danh. Tuy bên ngoài bóng loáng ngon mắt, khi chín mang sắc vàng cam nhưng ăn vào vẫn chát, thậm chí chát ngắt.
Dulichgo
Những người Đà Lạt mến khách còn dặn chớ ham rẻ mua hồng bao đổ đống ven các con đường lộ, nơi có nhiều xe chạy. Đa số là hồng dạt, khó để lâu và không ngon. Nếu mua hãy vào vựa, hay muốn mua nhiều nên nhờ người địa phương mua lại lò. Chất lượng sẽ ngon hơn, giá cũng không chênh nhau bao nhiêu.

Hồng giòn - đặc sản Đà Lạt cuối thu đầu đông

Khoảng mươi năm trở lại đây, người Đà Lạt chuyển sang thu hoạch các loại quả hồng khi trái vừa già (da đang chuyển dần sang màu vàng) và chế biến thành hồng giòn. Vừa dễ vận chuyển, vừa để lâu không úng hư, ăn lại rất ngon ngọt. Cách chế biến cũng rất đơn giản. Quả hồng được hái từ trên cây xuống, sau đó được lựa lại thật cẩn thận, những quả bị trầy xước sẽ chuyển sang làm hồng khô, hồng sấy. Còn những quả đẹp, lành lặn sẽ được đem ủ làm hồng giòn.

Khi ủ không dùng nước vôi, chỉ cần cho hồng vào túi nilông trắng, sạch rồi cột chặt để khoảng 10 ngày, trái sẽ mất hẳn vị chát, chỉ còn lại vị giòn ngọt vừa ăn. Đây cũng là loại hồng giòn với vỏ xanh ửng, trái nhỏ vừa vào mùa tháng 9 - 10 vẫn được bày bán khắp chợ Đà Lạt.

(*) Tôi đã "dừng" lại khá lâu để gởi bài này, một lý do là không muốn có những vườn hồng tan hoang vì bước chân du khách.

Theo TRÂN DUY (Báo Tuổi Trẻ)
Du lịch, GO!

Thứ Ba, 24 tháng 11, 2015

Vượt bùn, đẩy xe trên cung đường Tây Bắc

(VNE) - Không có những vật dụng bảo hộ, cũng không có kiến thức cơ bản để ứng phó khi xảy ra tình huống bất trắc, nhóm ba người chúng tôi lên đường khám phá Tây Bắc chỉ với hai chiếc xe máy vừa thuê và vài bộ quần áo.

Những ngày còn là sinh viên học tại Sài Gòn, tôi và hai người bạn luôn ao ước được một lần đặt chân đến những địa danh nổi tiếng ở Tây Bắc như Sa Pa, Y Tý ở Lào Cai hoặc Hà Giang,…Chỉ đến năm thứ ba đại học, chúng tôi mới gom góp đủ tiền học bổng để thực hiện một chuyến đi xa đầu đời.

Thời gian cho chuyến đi lên Tây Bắc là 3 ngày 2 đêm. Nhóm dự kiến ngày đầu tiên sẽ xuất phát từ ga Lào Cai, thuê xe máy tại đây sau đó di chuyển về xã Y Tý, ở lại đây một đêm, ngày thứ 2 di chuyển tiếp về Sa Pa và trở về vào trưa ngày thứ 3, tổng hành trình dài khoảng 170 km.

Chúng tôi hỏi đường những người bản địa, hầu hết ai cũng biết lối tắt để đi từ Y Tý sang Sa Pa. Tuy nhiên họ cũng khuyên nhóm nên di chuyển ngược lại, có nghĩa là từ Y Tý quay lại đường cũ để về thành phố Lào Cai, sau đó tiếp tục đi lên Sa Pa. Tất cả chắc chắn rằng, đoạn đường đó đang được thi công rất lầy lội, hơn nữa thời điểm tháng 9, vùng Tây Bắc trời mưa lớn, thường xảy ra sạt lở núi rất nguy hiểm, chúng tôi không thể chủ quan. Tuy nhiên, khi đó tuổi trẻ dồi dào năng lượng, suy nghĩ thiếu chín chắn, chúng tôi bỏ qua mọi lời khuyên, hăm hở quyết định sẽ đi đường tắt, vừa tiết kiệm thời gian, vừa ngắm được cảnh đẹp trên cung đường mới.
Dulichgo
Ngoại trừ hai chiếc xe máy vừa thuê và bình xăng mua thêm dự trữ, chúng tôi hồn nhiên không trang bị thêm bất cứ vật dụng bảo hộ nào cho chuyến đi, không một chút kiến thức để ứng phó khi xảy ra trường hợp bất trắc, trong khi hành trình phía trước ẩn chứa nhiều rủi ro với đồi núi phức tạp.

Ngày đầu tiên, sau khoảng chục cây số suôn sẻ với vô vàn cảnh đẹp vẫy chào, chúng tôi bắt đầu đi đến đoạn đèo thuộc xã Trịnh Tường với những con dốc dồn dập. Càng lên cao, chiếc xe càng chạy ì, đến giữa đèo, đầu xe giật liên tục, tiếng kêu phát ra như máy xay xát gạo. Lúc đấy, tôi chỉ còn biết vào số, trả số xoành xoạch, trong miệng cứ lẩm bẩm cầu mong cho nó không bị chết máy giữa một nơi toàn núi đồi hoang vu.

Thế mà cũng qua được. Kỳ diệu là chiếc xe máy mà chúng tôi thuê dường như được sinh ra để leo đèo. Qua được ngọn núi, chúng tôi thẳng đường chạy về Y Tý, trong lòng chẳng còn sợ hãi. Dọc đường đi, thỉnh thoảng gặp một vài bạn đi du lịch bụi, giữa núi đồi vắng vẻ, tự nhiên thấy vui trong lòng rồi đưa tay chào nhau dù chẳng quen biết. Đêm hôm đấy, ba người chúng tôi nghỉ lại Y Tý, một giấc ngủ ngon lành trong cái gió lạnh đang luồn qua những tấm liếp của nhà nghỉ.

Sáng hôm sau, theo lộ trình đã quyết từ hôm trước, nhóm đi về hướng đường tắt để đến Sa Pa. Vừa rời khỏi Y Tý vài cây số, xe bắt đầu đổ dốc trên con đường xuyên qua một đoạn rừng rậm nhiệt đới, dưới cơn mưa xối xả. Cơn mưa rừng khiến chúng tôi lạnh cóng chân tay, chốc chốc lại rùng mình bởi lớp áo mưa mỏng chẳng đủ cản những hạt mưa táp vào liên tục. Và rồi phía cuối con đường, bầu trời quang quẻ, một màu vàng đậm của lúa chín uốn lượn mềm mại trên những thửa ruộng bậc thang hiện lên, đám mây mỏng nhè nhẹ trôi trên đỉnh núi. Ba con người lần đầu tiên chứng kiến cảnh đẹp Tây Bắc, chỉ đứng ngây người, chẳng biết nói thêm câu cảm thán gì.
Dulichgo
Nhưng niềm hạnh phúc chưa được bao lâu, nhóm bắt đầu đi đến đoạn đường đáng nhớ nhất trong cả hành trình. Một đoạn đường với khúc cua tay áo khuất tầm nhìn nhão nhoẹt sình lầy và lởm chởm đất đá. Trận sạt lở từ vách núi sau trận mưa lớn là nguyên nhân của hiện trạng, nó đúng như lời những người dân ở Lào Cai đã nói với chúng tôi.

Dù có hơi đứng hình, nhưng nhóm không thể quay xe trở lại, vì đoạn đường đi được đã khá xa. Tôi nhìn thấy một gia đình người bản địa, sau một lúc chần chừ họ bắt đầu đi qua bằng cách tắt xe máy và đẩy bộ. Họ cũng chọn đi vào những chỗ có không có đá để tránh bị trượt và luôn đề phòng vực sâu bên cạnh. Chúng tôi bắt đầu đi theo.

Cả ba người cẩn thận đẩy từng chiếc xe ra khỏi đoạn đường. Dốc cao, đất nhão bết cả vào bánh khiến cho việc đẩy xe rất khó khăn. Thi thoảng tôi lại ngước lên nhìn vách núi vì sợ đất đá sạt lở thêm, tay cầm lái cứng đờ. Dù rất mệt, nhưng chúng tôi không thể vào số để vặn ga vượt qua. Con đường đất sình trơn tuột có thể đẩy chiếc xe lao xuống vực cận kề nếu chúng tôi bị trượt tay lái, nhất là ở khúc cua qua vách núi.

Cứ như thế, người đẩy, người cầm lái, chúng tôi lần lượt đưa hai chiếc xe đi qua đoạn đường lầy lội khoảng một cây số. Đường nhựa đã ở trước mặt, một khe nước nhỏ mát trong ven đường là món quà vô giá với những đôi chân nặng trịch đất sình của chúng tôi lúc đấy. Ba người ngồi xuống ăn vài chiếc bánh gạo, lắc đầu ngao ngán về đoạn đường vừa đi qua. Chưa bao giờ chúng tôi nói nhiều về một con đường như thế.

Kết thúc chuyến đi, may mắn là cả nhóm đã không gặp phải một sự cố đáng tiếc nào. Nhiều trải nghiệm nhớ đời, nhiều cảm xúc trào dâng với lần đầu mạo hiểm, nhưng nghĩ lại, đánh đổi sự an toàn của bản thân với kiến thức ít ỏi để lấy những trải nghiệm mới mẻ, đôi lúc không hẳn là lựa chọn thông minh. Ai biết may mắn còn đến lần sau.

Theo Đức Thành (Vnexpress)
Du lịch, GO!

Chủ Nhật, 22 tháng 11, 2015

Vùng cao Chi Lăng

Có một vùng cao nguyên xanh bao la, nơi những đàn dê, đàn ngựa của đồng bào Tày, Nùng nhởn nhơ gặm cỏ trong tiếng sáo của ai đó trên triền núi vọng về. Đó là một nét khác biệt mà ít ai ngờ nó ở ngay huyện Chi Lăng của tỉnh Lạng Sơn.

Lạng Sơn - mảnh đất cuối trời Đông Bắc của Tổ Quốc, tôi đã nhiều lần đi qua. Mục Nam Quan, Ải Chi Lăng ghi dấu lịch sử đánh thắng giặc ngoại xâm phương Bắc, đã quá quen thuộc với mọi người. Càng quen thuộc hơn khi đến xứ Lạng với những địa danh trong câu ca dao nhiều người thuộc lòng từ ngày bé:
Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa,
Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh...

Xứ Lạng còn có đỉnh Mẫu Sơn mùa đông tuyết phủ, ngày hè mát lạnh, trở thành khu nghỉ dưỡng tuyệt vời. Cứ tưởng xứ Lạng chỉ có bấy nhiêu thôi, nhưng chúng tôi đã lầm, bởi càng đi nhiều trên vùng đất này lại càng thấy có bao điều mới lạ.
Dulichgo
Từ Đồng Mỏ, bên quốc lộ 1A có tấm bảng "Ải Chi Lăng", chúng tôi rẽ vào một con đường xa lạ để đi tìm vùng đất mới. Càng đi càng thấy khó khăn, bởi đường đèo dốc, sỏi đá lởm chởm đã bị xe tải băm nát. Chiếc xe máy cứ lên cao, lên cao mãi để rồi những cơn gió thổi vù vù làm tan biến nóng nực, mệt nhọc của kẻ vượt đường xa như chúng tôi.

Đi mãi, chắc khoảng 30 - 40km từ điểm rẽ, qua bao núi đồi hoang vắng, mịt mù, cuối cùng chúng tôi cũng tới được bản Co Hương, nơi có một trường tiểu học nằm chót vót trên núi cao. Đã vào ngày Hè, trường bản vắng bóng học trò, chỉ có vài đứa trẻ nhà gần đó kéo nhau ra chơi. Tiếng trẻ ríu ran làm chúng tôi quên bao mệt nhọc.

Chúng tôi đã từng thượng sơn nhiều nơi như Tam Đảo, Ba Vì, Mộc Châu,... và cả Mẫu Sơn nữa, nhưng đến với vùng cao Chi Lăng này cảm giác hoàn toàn khác biệt. Cái hoang sơ của cảnh vật, sự giản dị của con người, ánh mắt những đứa trẻ và những quả núi chỉ có một màu xanh của cỏ, lớp lớp nối nhau chạy xa tít chân trời làm chúng tôi như lạc vào một thế giới khác.

Những bản Co Hương, Thằm Nà, Suối Mạ của vùng đất Chi Lăng có độ cao 1.200 - 1.300m so với mực nước biển (chỉ kém Mẫu Sơn vài trăm mét). Vùng đất này được thiên nhiên ban tặng cho những đồi cỏ bao la như những thảo nguyên. Chính nhờ đặc điểm ấy mà gần một thế kỷ qua, đồng bào dân tộc Tày, Nùng ở đây đã biết chăn thả dê, ngựa. Chính vùng đất này làm cho Chi Lăng trở thành "vương quốc" ngựa trắng của Việt Nam.

Nếu bạn muốn tìm những chàng chăn ngựa như Bật Mã Ôn trong phim Tây Du Ký thì đến vùng núi đồi Chi Lăng này là "chuẩn nhất". Không còn sự ồn ào, vội vã của cuộc sống, mọi người như được thả hồn vào khung trời bình yên, quá rộng lớn.

Chúng tôi bỏ lại xe máy ở bản Co Hương và bắt đầu lội bộ cùng các chàng trai Tày, Nùng với những đàn ngựa, đàn dê, đàn trâu, đàn bò, nhưng nhiều nhất vẫn là dê và ngựa. Bước chân của chúng tôi như được nâng đỡ bởi bên tai lúc nào cũng văng vẳng tiếng sáo ai như gần như xa, bởi chàng trai thổi sáo nào đó ở mãi mỏm núi bên kia, chẳng thấy người, nhìn lên chỉ có đàn trâu đang lặng lẽ gặm cỏ bên triền đồi.

Những chàng trai Nùng nói sáng sớm nào họ cũng xua dê, ngựa lên núi ăn cỏ theo tiếng sáo trúc quen thuộc ấy và chính họ cũng mang theo những cây sáo như vậy. Dê, ngựa, trâu thường được chủ đeo chuông. Những tiếng chuông leng keng giúp chúng khỏi lạc bầy và chiều chiều gọi đàn tìm đường về nhà. Tuy không phải như dân du mục, nhưng các chàng trai Tày, Nùng phải theo vật nuôi cả chục kilomet mỗi ngày.

Sự thảnh thơi, lãng du trong tiếng sáo của họ không thể xóa đi nỗi vất vả mưu sinh. Lạc đàn thì không sợ, nhưng mối lo bị mất trâu, mất ngựa, mất dê vẫn luôn thường trực.

Tô điểm cho những đồi cỏ mênh mông là bao loại hoa khoe sắc, nhiều nhất vẫn là sắc tím thủy chung của hoa mua. Càng đi càng mê, càng đi càng say, lữ khách như muốn ẩn trốn mãi vào chốn này. Buổi trưa hôm đó, chúng tôi được người dân địa phương trong các lán trên núi đãi món gà quay kèm rượu Sán Nùng.
Dulichgo
Trong bữa cơm ấy chúng tôi còn học được vài tiếng của đồng bào, như "kin lẩu" là uống rượu, "kin khẩu" là ăn cơm, hay "kim mào" là say rượu... Thật vô cùng thú vị!

Một thầy giáo ở Trường tiểu học Co Hương cho chúng tôi biết thêm, những đồi cỏ ấy còn là nơi hò hẹn của bao đôi trai gái các bản Tày, Nùng ở đây. Những đỉnh đồi ấy cũng là nơi các thầy cô gửi email, gọi điện thoại vì sóng ở đó "nét căng", chứ vào nhà là y rằng mất sóng.

Cảnh sắc thanh bình, tình người say trong men rượu, chợt chúng tôi - những người hay lang thang - nghĩ rằng, nếu ai đó chỉ lên đây trong hai ngày cuối tuần thôi cũng đã khám phá được bao điều thú vị. Thậm chí môn xe đạp địa hình, dù lượn xuất hiện trong khung cảnh nơi đây cũng sẽ rất tuyệt vời, chẳng kém gì dù lượn khám phá ruộng bậc thang ở Mù Cang Chải. Nhưng tuyệt vời nhất và sẵn có nhất chính là được cưỡi ngựa.

Ở đây có những con ngựa đã quen người lạ cùng sự chỉ bảo tận tình của các chàng "Bật Mã Ôn", ai cũng có thể thử cảm giác thong dong trên lưng ngựa qua những đồi cỏ. Thêm vào đó là sự mến khách, lối sống độc đáo, ẩm thực cũng độc đáo của đồng bào các dân tộc nơi đây sẽ gợi mở cho những ai muốn tò mò khám phá vùng cao Chi Lăng.

Chúng tôi sẽ còn nhớ mãi một ngày qua nơi đây. Mong ước của lữ khách là những dịch vụ du lịch sẽ xuất hiện ở vùng cao Chi Lăng trong tương lai gần. Biết đâu du lịch sẽ mang lại cuộc sống sung túc cho đồng bào nơi đây vốn chỉ quen chăn ngựa, thả dê...

Theo Đỗ Hùng, Hải Văn (Doanh Nhân SG)
Du lịch, GO!

Lạc giữa thảo nguyên xứ Lạng

Thứ Tư, 18 tháng 11, 2015

Ngược miền Tây Giang

(TTO) - Đắn đo nhiều lần rồi vẫn quyết tâm rũ bỏ những ngột ngạt ngày thường, cả nhóm chúng tôi ngược về vùng miền núi Tây Giang, nơi xa xôi nhất của tỉnh Quảng Nam.

< Càng lên gần Tây Giang, cung đồi đèo núi càng thêm gập ghềnh, khúc khuỷu.

Bỡ ngỡ pha lẫn sự thích thú khi ngồi sau tay lái, những xa lạ lại vô tình gợi lên vô vàn cảm xúc hấp dẫn cho kẻ lữ hành. Có đoạn hai bên đường là những vườn chè trải rộng xanh mướt, lúc lại len lỏi giữa rừng keo lá tràm đẹp như mơ... Càng lên cao càng hồi hộp khi những chiếc xe trườn qua nhiều con dốc hiểm, cung đèo trắc trở…

< Những vườn chè trải rộng, xanh mướt trên đường về Tây Giang.

Hơn bốn giờ chạy từ Đà Nẵng, vừa đặt chân đến Tây Giang mọi mệt mỏi như biến mất. Đã nghe nhiều, nói nhiều nhưng đến giờ mới tận mắt nhìn thấy vẻ đẹp hoang sơ, vừa lạ lẫm vừa gần gũi.

< Bức tranh núi rừng tại trung tâm huyện Tây Giang.

Một không gian núi rừng xanh trải dài bất tận, trùng điệp chạy ngút ngàn. Thấp thoáng, xa xa một vài ngôi nhà đồng bào Cơ Tu nằm khuất giữa màu rừng hoang sơ, yên tĩnh. Ký ức tuổi thơ như ùa về theo mùi ngai ngái khói bếp bốc lên từ những ngôi nhà đơn sơ, mộc mạc.

Sáng sớm, sau một đêm nghỉ ngơi thong dong thả bộ trên con đường nhấp nhô, thi thoảng lại bắt gặp nụ cười của đôi ba em bé Cơ Tu thân thiện chào khách, những mệt mỏi đời thường như trôi hết vào lớp sương mờ bềnh bồng trên các rặng cây, đỉnh núi.

< Những ngôi nhà sàn Cơ Tu nằm khuất giữa màu rừng.
Dulichgo
Từ trung tâm huyện lỵ miền núi Tây Giang ngược về xã Lăng, thi thoảng lại bắt gặp những ngôi nhà sàn san sát. Có dịp đắm mình trong nét hoang sơ của ngôi làng Cơ Tu truyền thống từ bao đời nay với những ngôi nhà gươl, nhà moong, nhà dài độc đáo với kiến trúc, chạm trổ đặc trưng cũng là một trải nghiệm đặc biệt. Nếu có duyên khách đường xa còn được hòa mình vào những buổi sinh hoạt truyền thống của đồng bào nơi đây.

< Nhiều du khách thích thú khi được ngắm sương chiều buông trên bản làng.

Màn sương đêm vừa giăng xuống, bà con đã đến chật nhà, những cái nắm tay mừng rỡ chào khách rồi tiếng cười nói, hỏi thăm ríu rít…
Giữa ánh lửa bập bùng, trong tiếng cồng chiêng rộn rã, những thiếu nữ người Cơ Tu má đỏ hây hây rót từng ly rượu mời khách rồi tạo thành vòng tròn nghiêng mình theo điệu múa truyền thống tâng tung - za zá. Mùi thơm nồng của cơm lam, thịt xông khói, đĩa xôi rừng… cùng men rượu ba kích khiến ai cũng thấy lòng mình ấm lại.

< Du khách thăm những ngôi nhà trong làng truyền thông Cơ Tu để biết thêm về đời sống văn hóa nơi đây.
Dulichgo
Càng về khuya, trời vùng cao càng lúc càng lạnh. Ánh lửa vẫn bập bùng, tiếng cồng chiêng vẫn rộn rã, giọng già làng vang vang với những câu chuyện ngày xửa ngày xưa và trang sử hào hùng đã qua...

< Món ngon đãi khách.

Những năm gần đây, điểm du lịch Tây Giang xuất hiện ngày càng nhiều trên các tour du lịch Quảng Nam - Đà Nẵng. Dù núi rừng cách trở nhưng đã đến rồi rời xa nơi đây, chắc chắn trong lòng mỗi du khách sẽ có nhiều điều để nhớ, những ngôi nhà sàn nho nhỏ, tiếng cồng chiêng… và cả màu xanh ngút ngàn cùng ánh mắt sâu thăm thẳm của em bé Cơ Tu như níu chân du khách thêm một lần trở lại.

Theo Thanh Ly (Dulich.Tuoitre)
Du lịch, GO!

Bí ẩn Tây Giang
Đường lên 'trời' ở Tây Giang
Sắc màu Tây Giang, Quảng Nam
Hội Đâm trâu ở Tây Giang
Lên Tây Giang ăn gỏi tr’đin
Mật mã Tây Giang - Đông Giang

Thứ Hai, 16 tháng 11, 2015

Thăm bản Hiêu của bà con dân tộc Thái

(ANTĐ) - Xe đến thị trấn Phố Đoàn vào lúc đã quá trưa, đi thêm chừng hơn chục cây số, anh lái xe cho xe rẽ vào con đường đất hẹp, mấp mô lên xuống kèm theo lời giới thiệu: Nếu đi từ đường QL6 rẽ sang QL15 ở ngã ba Tòng Đậu, qua Mường Hịch lên Hồi Xuân rồi vào Khu Bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Pù Luông ở Tây Bắc tỉnh Thanh Hóa sẽ gần hơn. Còn đi từ đường Hồ Chí Minh thì xa hơn, tuy nhiên đoàn lại có cơ hội thăm Suối cá thần Cẩm Lương trước khi đến với Pù Luông.

Từ đây, đi thêm một đoạn nữa là cả đoàn phải rời xe để tiếp tục hành trình trekking (leo bộ) vào khu vực trung tâm khu bảo tồn, lên đỉnh Pù Luông.

Chặng đường đất mà xe còn đi được chỉ chừng hơn 2km. Hết chặng, cả đoàn lục tục chuẩn bị ba lô hành lý gọn gàng cho việc trekking để chính thức bước vào chặng chinh phục và khám phá KBTTN Pù Luông thuộc địa phận huyện Bá Thước, Thanh Hóa.

Chặng đường này dài chừng hơn 4km để đến bản Hiêu, điểm đến chính của hành trình. “Bản Hiêu chưa phải là ở chính trung tâm của KBTTN nhưng được chọn vì đoạn đường mòn chừng hơn 6km nối từ bản Hiêu sang Son-Bá-Mười (Bản Son, bản Bá, bản Mười, 3 bản cạnh nhau nên người ta gọi quen là Son-Bá-Mười, chính trung tâm) hiện đang không thể đi được do một lần sạt lở từ mùa mưa, vẫn chưa thể đảm bảo an toàn cho du khách.

Tuy nhiên, nếu không qua bản Hiêu mà từ Phố Đoàn đi theo một đường khác cũng có thể đến Son-Bá-Mười và dễ đi hơn”. Người dẫn đường địa phương giới thiệu qua về khu vực trung tâm KBTTN trong khi cả đoàn đang tiến dần vào khu vực trung tâm. Khung cảnh hùng vĩ của một vùng núi rừng còn hoang sơ khiến cho câu chuyện của người dẫn đường như rơi biến vào cảm xúc.
Dulichgo
Bản Hiêu là một bản người Thái nằm bên bờ suối Hiêu bắt nguồn từ trên đỉnh Pù Luông. Bản gồm hơn trăm nóc nhà nằm rải rác dọc theo hai bên bờ suối. Cứ mỗi khi có một ghềnh thác đẹp, những nóc nhà sàn lại dày hơn tạo nên một khung cảnh suối thác - nhà sàn đẹp như tranh thủy mặc.

Cả khúc suối tính từ đầu bản đến cuối bản chỉ chừng gần cây số nhưng có tới 5 thác nước, thác nào cũng đẹp và chẳng thác nào giống thác nào. Vì vậy, người dân trong bản gọi chung tất cả những thác nước ấy là thác Hiêu và thân thương gọi con suối ấy với tên gọi “dòng Hiêu” chứ không gọi là suối Hiêu như cách thông thường.

Thiên nhiên kỳ thú, tươi đẹp với những thác nước trong vắt tung bụi trắng nối tiếp nhau ầm ào tuôn chảy. Những cọn (guồng nước) xoay tròn róc rách hai bên mép nước.

Bản làng cổ kính với nhà gỗ, mái rơm như hòa quyện vào không gian hoang sơ của khu bảo tồn khiến cho những bước chân dấn lên sườn núi dốc như không hề mệt mỏi. Ở mỗi chân thác nước, một hồ tự nhiên nhỏ nhắn hình thành như để lưu lại làn nước xanh biếc mát mẻ cho du khách thả chân, thư giãn.

Trên đỉnh thác, cũng chính là nơi tập trung đông nhất những nếp nhà sàn, ấy cũng là nơi chúng tôi dừng chân, nghỉ lại, ra suối tắm mình vào dòng nước mát trong khi chờ gia chủ chuẩn bị bữa cơm truyền thống địa phương với món đặc sản: Vịt Cổ Lũng, cá nướng Pá Pỉnh, xôi… và tất nhiên không thể thiếu rượu thóc đậm đà.

Cuối bữa, mâm bát đã được dọn đi, một vò rượu cần lớn bày ra trước khoảng sân rộng trước nhà sàn, đội văn nghệ bản Hiêu thướt tha váy cóm truyền thống giao lưu cùng du khách trong tiếng nhạc lúc rộn ràng, khi dìu dặt. Đêm buông xuống lẫn trong tiếng thác, điệu xòe mộng mị, ngẩn ngơ.
Dulichgo
Buổi sáng ở bản Hiêu mùa này hầu như không có ánh mặt trời mà lại bạc trắng màu mây phủ khắp chốn, bồng bềnh, xa ngái. Thong thả bách bộ trên con đường nhỏ xíu lúc tỏ lúc mờ vòng quanh đỉnh núi để cảm nhận và hít thở cái không khí ấy cũng đủ khiến cho tâm hồn thư thái, cơ thể như thanh sạch và khỏe khắn hơn nhiều. Mọi mệt mỏi của chặng trekking lên núi dường như chả thấm gì. Chúng tôi rời bản Hiêu sau một vòng thả bộ trong mây như vậy. Để rồi, đến khi đã về với chốn thị thành tấp nập, trong lòng mỗi thành viên đều tự nhắn nhủ rằng: Sẽ còn trở lại Pù Luông.

Theo Vũ Thanh (An Ninh Thủ Đô)
Du lịch, GO!

Truy tìm con suối 'hóa đá'

Thứ Năm, 12 tháng 11, 2015

Hòn Hải: Cột mốc trên Biển Đông

(DNSG) - Nếu rất nhiều hòn đảo giữa biển khơi của Việt Nam đều được nhắc đến thì Hòn Hải lại bị lãng quên khi không xuất hiện trong bất cứ một tài liệu du lịch nào, trong khi đây thật sự là một kỳ quan giữa Biển Đông.

Hòn Hải còn được gọi là Hòn Khám (là điểm A6 đường cơ sở lãnh hải Việt Nam), là một khối đá khổng lồ mang hình chiếc hài, có tên trên bản đồ quốc tế với tên gọi Poulo Sapate. Hòn Hải nằm cách đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận (còn gọi là Cù lao Thu) khoảng 65km, có chiều dài khoảng 130m, chiều ngang chỗ rộng nhất khoảng 60m, điểm cao nhất 113m tính từ mặt biển.

Bao đời nay, ngư dân Cù lao Thu đã biết rõ Hòn Hải hoàn toàn khô cằn, không có nước ngọt, cây cối, nhưng lại là nơi trú ngụ của hàng vạn chim nhạn, mòng biển, bồ nông.

Vào tầm tháng 6, tháng 7 mùa chim đẻ, bề mặt đảo đặc nghẹt trứng chim và phủ một màu trắng phân chim. Những ai đã một lần đặt chân lên đảo hẳn sẽ ngẩn ngơ với khung cảnh kỳ ảo nơi đây. Qua bao thiên niên kỷ, gió và sóng biển bào mòn đá, tạo nên hàng vạn đường gờ uốn lượn nhấp nhô quanh đảo như một nét cọ mềm mại quét vội qua tấm toan.

< Hòn Hải nhìn từ xa.

Nhận thấy đây là nơi có vị trí trọng yếu về quốc phòng cũng như rất nguy hiểm cho tàu bè qua lại nếu không có hệ thống đèn cảnh báo, năm 1999, Bộ Quốc phòng đã xây dựng một hải đăng trên đảo.

Qua khảo sát, lực lượng công binh đánh giá quanh Hòn Hải toàn đá ngầm, quanh năm sóng lớn, có lúc sóng cao đến chục mét, mùa biển động kéo dài nhiều tháng, nắng thì chan lửa, mưa thì như thác đổ. Có lần đoàn khảo sát ra đến đảo nhưng không cập tàu được, phải quay lại đất liền.

Hòn Hải được hình thành từ núi lửa phun trào hàng triệu năm trước, phần dung nham gần mặt biển gặp nước, hóa đá rắn chắc còn phần trên cao thì xốp và mềm hơn, nên thường xuyên bị bào mòn, thường có đá rơi, đá lở, nhiều vách hụt.
Dulichgo
Chỉ sau 20 ngày đầu tiên xây dựng hải đăng đã có chiến sĩ hy sinh, hàng trăm tấn vật tư bị sóng cuốn xuống biển. Sau nhiều nỗ lực, đến cuối năm 2004, một hệ thống các công trình được lực lượng công binh hoàn thành gồm một căn nhà kiên cố dưới chân đảo có diện tích gần 300m2, bến cập tàu 380m2, hệ thống phao neo và bãi liền bến 423m2.

< Đường hầm xuyên núi đá cao 170m với 240 bậc.

Một trong những công trình độc đáo nhất tại đây là đường hầm xuyên lòng núi đá dài 170m với 4 cửa nối từ gần mặt biển lên mặt đảo. Hầm được gia cố bằng bê tông cốt thép chống đá rơi và dư chấn.

Cửa hầm nằm ở mặt sau của tòa nhà rồi kéo dài lên bề mặt đảo bằng 170 bậc thang. Từ miệng hầm đến mặt đảo có 240 bậc thang được đổ bê tông kiên cố nối lên chân ngọn hải đăng.

Ngọn hải đăng Hòn Hải giúp tàu thuyền hoạt động ngoài khơi tỉnh Bình Thuận định hướng và xác định vị trí với tầm nhận diện địa lý ban ngày là 26,5 hải lý, tầm chiếu sáng ban đêm là 24,5 hải lý. Hải đăng được đặt tại điểm cao nhất của đảo là 113m, chiều cao tính từ chân đến đỉnh đèn là 10,4m.

Đèn sử dụng pin năng lượng Mặt trời đảm bảo chiếu sáng liên tục. Bên cạnh đó là trạm thu phát sóng thông tin di động (BTS) của Viettel nối liên lạc với đất liền và tàu bè quanh đảo. Hiện nay, hải đăng Hòn Hải do Công ty Bảo đảm an toàn hàng hải Nam Trung Bộ, trực thuộc Tổng công ty Bảo đảm an toàn hàng hải Miền Nam quản lý.

Anh Lê Ngọc Nam - phóng viên Tạp chí Biển chia sẻ: "Việc thiết lập và duy trì ngọn hải đăng thể hiện nghĩa vụ và quyền chủ quyền của các quốc gia có biển, giúp người đi biển xác định vị trí và phương hướng trên biển nhằm thiết lập một môi trường an toàn về hàng hải, thúc đẩy các ngành kinh tế biển Việt Nam phát triển".
Dulichgo
Vào những ngày biển lặng trời êm, Hòn Hải hiện lên sừng sững giữa biển khơi như một cột mốc chủ quyền thiêng liêng của Việt Nam trên Biển Đông.

Gian nan hành trình ra Hòn Hải

Ngay cả những người đã nhiều năm gắn bó với đèn biển và am hiểu các vùng biển Việt Nam, khi nhắc tới hải đăng Hòn Hải ai cũng phải lắc đầu vì sự cô đơn giữa muôn trùng biển khơi.

Sau một năm xin phép và chờ đợi để ra Hòn Hải, đến cuối tháng 7 thì cơ hội đến với tôi. Từ Sài Gòn tôi đón chuyến xe đêm ra Nha Trang để sáng hôm sau từ cảng Nha Trang lên con tàu tiếp tế 735 của Công ty Bảo đảm an toàn hàng hải Nam Trung Bộ, trực thuộc Tổng công ty Bảo đảm an toàn hàng hải Miền Nam ra Hòn Hải.

Chuyến hành trình 150 hải lý của tàu 735 lần này có hai nhiệm vụ: Đưa 5 thành viên ra thay ca trực ngọn hải đăng và chở lương thực, thực phẩm, nước ngọt đủ dùng trong 5 tháng cho các nhân viên trên Hòn Hải.

Tàu 735 mới rời bến được khoảng 2 giờ đồng hồ thì gió giật mạnh, sóng lớn lớp lớp nổi lên. Con tàu chòng chành, lầm lũi chồm về phía trước trong màn mưa trắng xóa càng lúc càng mạnh. Thuyền trưởng Tuấn và thủy thủ đoàn phải căng mắt theo dõi mọi tình huống có thể xảy ra để kịp thời xử lý.
Dulichgo
Gió càng lúc càng mạnh. Những con sóng đến 4 mét nhấc bổng con tàu lên cao rồi ném xuống mặt biển nhấp nhô như núi. Nhiều vật dụng trên tàu bung dây buộc, rơi vãi. Nước tạt tới tấp vào khoang lái. Thuyền trưởng Tuấn với 30 năm tuổi nghề của Công ty Bảo đảm an toàn hàng hải Nam Trung Bộ căng mắt chịu trận, khéo léo điều khiển con tàu vượt sóng.

Biển tiếp tục động mạnh, đêm đầu tiên tàu bắt buộc phải tránh bão ở Mũi Dinh. Hôm sau lại tiếp những giờ dài dặc mệt mỏi trên biển, quá trưa tàu mới đến đảo Phú Quý. Thuyền trưởng quyết định cho tàu tạm nghỉ, đợi đến khoảng 0 giờ, sóng lặng bớt lại vượt biển.

Vì quá mệt sau một ngày đêm bị say sóng nên tôi ngủ vùi lúc nào không biết. Bất chợt trong cơn mơ màng, nghe tiếng reo của các thủy thủ: "Đến Hòn Hải rồi!". Tôi bừng tỉnh, nhảy chồm dậy xách máy ảnh nhào ra boong tàu. Bầu trời một màu hồng tím kỳ ảo. Trong màn sương mờ đục ẩn hiện một bóng đen khổng lồ.

< Tàu cập đảo.

Cảm giác choáng ngợp xâm chiếm hồn tôi. Rồi từ từ sương tan, cả một khối đá khổng lồ lộ ra trước mắt. Quả là lạ lùng: Giữa một vùng biển không bến bờ lại có một khối đá sừng sững đơn côi, rợp trời nhạn biển chao liệng. Khung cảnh trước mắt như chỉ có trong truyện cổ tích.

Đúng 6 giờ tàu cập Hòn Hải - điểm A6 đường cơ sở lãnh hải Việt Nam. Dòng hải lưu chảy rất mạnh nên khi vận chuyển hàng hóa lên đảo, tàu phải neo đuôi, thắt chặt hai dây phía mũi và nổ máy, nhấn ga liên tục để không cho sóng đánh dạt ra biển.

< Từ miệng hầm đến bề mặt đảo có một hệ thống 240 bậc thang được đổ bê tông kiên cố nối lên tận chân hải đăng Hòn Hải.

Thuyền trưởng Tuấn ra lệnh mọi hàng hóa đưa lên đảo chỉ tối đa là trong vòng 2 tiếng đồng hồ để đảm bảo an toàn.
Dulichgo
Các thành viên thoăn thoắt vận chuyển lên bãi tập kết vật dụng, lương thực, nhu yếu phẩm và 100m3 nước ngọt. Do đảo là khối đá được hình thành từ núi lửa nên không có nước ngầm. Nước mưa cũng không thể sử dụng do phân chim dày đặc gây nhiễm khuẩn.

Năm 1999, lực lượng công binh bắt đầu xây dựng một số công trình trên đảo, gồm một căn nhà kiên cố dưới chân đảo, bến cập tàu rộng 380m2 có hệ thống phao neo và bãi liền bến 423m2. Để đảm bảo an toàn, các công trình phải đổ bê tông 100%, không sử dụng gạch, trên nóc nhà có nhiều bao tải đá dăm trộn cát để làm giảm áp lực trong trường hợp đá lở.

Sau 20 ngày xây dựng đã có tai nạn bi thương: Anh Nguyễn Văn Mộc (sinh năm 1956) thuộc Đoàn 6 Bộ tư lệnh Hải quân hy sinh do sóng bất ngờ cuốn xuống biển, không tìm được thi thể. Khi sắp hoàn thành công trình, anh Nguyễn Văn Nhắn thuộc Công ty Lũng Lô tử vong.

< Hệ thống năng lượng Mặt trời trên đảo.

Để tưởng nhớ các anh, đồng đội đã dựng lên hai ngôi mộ gió gần chóp đảo, như cách ngư dân vẫn làm để tưởng nhớ người thân mất khi đi biển mà không tìm được thi thể.

Vào mùa biển động, tàu không thể cập vào cầu tàu nên việc tiếp tế cho đảo vô cùng gian nan. Lương thực, thực phẩm, nước ngọt phải kéo bằng ròng rọc lên miệng hầm cách mặt biển khoảng 30m.

< Tháng 7 là mùa sinh nở của hàng vạn chú chim nhạn, mòng biển...

Năm 2005, sóng cao cả chục mét đánh dữ dội vào đảo, đá chân chim nặng từ 12-16 tấn/viên thả quanh đảo bị cuốn trôi sạch. Có một hòn đá 16 tấn bị sóng đưa từ dưới biển lên mặt sàn và nằm cố định từ đó đến nay do không ai đủ sức di chuyển.

< Lễ tưởng nhớ đồng đội đã hy sinh.

Trò chuyện cùng tôi, anh Nguyễn Ngọc Ảnh - một người canh giữ ngọn hải đăng tâm sự: "Bốn tháng ở Hòn Hải là thử thách rất lớn với anh em. Ban ngày chúng tôi phải leo lên hải đăng để kiểm tra, tối đến ngủ tại chân ngọn đèn để đảm bảo đèn luôn chiếu sáng.
Dulichgo
Dù mưa gió bão bùng, công việc đều phải hoàn thành tốt. Bốn tháng trời chỉ quanh quẩn mấy amh em, bị cô lập hoàn toàn giữa trùng khơi nên ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý con người. Sau khi thay ca phải mất nhiều ngày anh em tôi mới thích nghi được với cuộc sống đất liền".

Vì tàu không ở được lâu nên anh Đỗ Công Tuấn - Trạm trưởng Trạm Hải đăng Hòn Hải phải nhanh chóng nhận bàn giao tài sản. Dù ở hải đảo xa xôi nhưng việc quản lý tài sản được mọi người thực hiện chặt chẽ, nghiêm túc. Anh em canh đảo cho biết, ngư dân bất cứ ở đâu khi ngang qua Hòn Hải đều hướng về đảo cúi lạy cầu bình an vì họ cho rằng nơi đây rất linh thiêng.

Trước khi rời đảo, thuyền trưởng Tuấn tổ chức cúng và hóa vàng để tưởng nhớ những anh em vì biển đảo thiêng liêng của tổ quốc phải nằm lại dưới dòng nước lạnh lẽo.

Gần 9 giờ, tàu bắt đầu rời bến. Người trên bờ, người dưới tàu bùi ngùi vẫy tay tạm biệt. Bốn tháng sau sẽ lại có người ra đảo thay ca cho các anh, tiếp tục thắp sáng ngọn hải đăng trên vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam.

Theo Quỷ Cốc Tử (Doanh Nhân SG), ảnh Reds.vn
Du lịch, GO!