(PLO) - Với triền cát trắng tinh mịn màng trải dài hình cánh cung, Bãi Khem (Phú Quốc) là điểm đến mới không thể bỏ qua. Đặc biệt, du khách còn có dịp ghé thăm Mũi Ông Đội, địa danh hai mặt biển độc đáo.
Nằm cách trung tâm thị trấn Dương Đông khoảng 25km, Bãi Khem (phía Nam đảo Phú Quốc) là địa danh mới đang được yêu thích ở Phú Quốc.
Trải dài thoai thoải hình vòng cung với một viền cát trắng nổi bật giữa màu xanh cây rừng và biển khơi lồng lộng, bãi Khem là một trong những bãi biển đẹp nhất Phú Quốc với cát trắng mịn như kem, nước xanh ngắt màu ngọc bích nhìn thấu đáy mang đến cảm giác thư thái lạ thường.
Nơi đây là một vịnh biển riêng tư, đặc biệt phù hợp cho những chuyến du lịch nghỉ dưỡng.
Không dài rộng phóng khoáng như bãi Trường hay một số bãi biển nổi tiếng khác trên đảo Ngọc, mà bãi Khem với đường cong quyến rũ làm say lòng du khách bởi triền cát trắng phau mê hoặc.
Dulichgo
Cát biển nơi đây không mang màu vàng tươi hay vàng đậm ngả sang nâu như sắc biển nhiều vùng khác mà trắng mịn tựa như kem.
Hạt cát ở đây có độ lắng và mịn tới mức, cho dù đặt chân lên nhưng cát vẫn im lìm chìm xuống, không làm nước bị vẩn đục. Đây là điểm đặc biệt nhất, hiếm có nơi nào có được bãi cát trắng đặc thù như vậy.
Với vẻ độc đáo rất riêng, bãi Khem là địa danh không nên bỏ lỡ khi du khách tới thăm Phú Quốc.
Đặc biệt, cạnh bãi Khem, du khách có thể ghé thăm Mũi Ông Đội với địa hình độc đáo hai mặt giáp biển. Ở vị trí hiếm có trên thế giới, Mũi Ông Đội là nơi duy nhất du khách có thể ngắm mặt trời mọc và lặn ở cùng một vị trí.
Dulichgo
Cảnh quan sinh động với hình thế độc đáo, bãi cát trắng mịn, các ghềnh đá, bãi đá hùng vĩ và những rặng san hô nhiệt đới đa sắc màu... mang tới trải nghiệm chưa từng có về một thiên đường biển nhiệt đới hiếm có trên thế giới.
Nơi đây còn là một điểm câu cá, lặn ngắm san hô lý tưởng tại Phú Quốc.
Dulichgo
Phía cuối bãi biển là di tích Giếng Tiên, giếng nước ngọt nằm ngay sát bờ biển nhưng không bao giờ cạn. Chỉ là một mạch nước ngầm nhỏ nhưng theo người dân địa phương, dù có lấy đi bao nhiêu nước, thì giếng cũng không bao giờ cạn. Thậm chí, khi thủy triều lên tràn gần tới mé nước, thì nước trong hồ cũng không hề nhiễm vị mặn.
Tới thời điểm này, Bãi Khem và Mũi Ông Đội đang chưa nhiều các bàn chân khám phá bởi nơi đây được quân đội quản lý đến năm 2009.
Níu chân du khách bởi vẻ nên thơ, Bãi Khem và Mũi Ông Đội là điểm đến mới hấp dẫn và ấn tượng, mang tới những trải nghiệm độc đáo cho du khách.
Tới đây, khi quy hoạch đảo Ngọc Phú Quốc được thực hiện, khu vực An Thới – thị trấn Dương Đông trở thành một trục chính của quy hoạch, chắc chắn Bãi Khem và Mũi Ông Đội sẽ trở thành những địa danh không thể bỏ lỡ cho những du khách ưa khám phá.
Theo Chi Bảo (Báo Pháp Luật)
Du lịch, GO!
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đảo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đảo. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Hai, 7 tháng 12, 2015
Hai hang động mới ở Bái Tử Long
(TTO) - Với vẻ đẹp lộng lẫy, kỳ bí, hai hang động mới ở Hòn Phất Cờ (vịnh Bái Tử Long) vừa được công bố rộng rãi khiến bất kỳ du khách nào đặt chân vào đây cũng không muốn dời bước.
< Ông Nguyễn Sỹ Bính - người phát hiện hang động này cách đây 3 năm - nhìn về phía cửa hang. Hiện tại ông Bính vẫn chưa tìm được một cái tên phù hợp để đặt tên cho hang động này.
Cùng với thông tin về việc phát hiện thêm 23 hang động mới tuyệt đẹp ở vịnh Hạ Long, những ngày đầu tháng 12 này, ngư dân Nguyễn Sỹ Bính (thôn 5, xã Hạ Long, huyện Vân Đồn, cách TP Hạ Long khoảng 50km) cũng lần đầu tiên tiết lộ thông tin về hệ thống hai hang động mới mà ông đã phát hiện ở vịnh Bái Tử Long, thuộc phạm vi vịnh Hạ Long.
< Nhũ đá hay thạch nhũ được hình thành do cặn của nước nhỏ giọt đọng lại trải qua hàng trăm, nghìn năm. Nó là khoáng vật hang động thứ sinh treo trên trần hay tường của các hang động.
Qua giới thiệu và thuyết phục của người quen, ông Bính đồng ý đưa canô vào bờ để đón chúng tôi ra vịnh, đến Hòn Phất Cờ để có dịp chiêm ngưỡng vẻ đẹp của các hang động này.
Chăn dê, phát hiện hang động
Dulichgo
Từ đất liền ra đến Hòn Phất Cờ không đến 10 phút bằng canô cao tốc, nhưng giữa những ngọn núi nhỏ nhô lên trên vịnh, nếu không có người dẫn đường như ông Bính, chúng tôi không thể tin phía trong những ngọn núi nhỏ kia là những hang động cực lớn.
< Những nhũ đá khổng lồ xếp lên nhau khiến nhóm phóng viên cảm thấy rất bất ngờ.
“Vợ chồng tôi phát hiện hang này từ hơn ba năm nay nhưng mãi đến tuần trước mới đưa một nhóm người đầu tiên của một công ty du lịch cùng mấy người ở Phòng Văn hóa huyện Vân Đồn đi. Giờ đoàn các anh là nhóm thứ hai tôi đưa lên hang” - ông Bính cho biết.
Đường lên hang men theo các gờ, hốc đá nhưng đi khá dễ bởi đã được ông Bính cải tạo bằng các bậc ximăng. Có những đoạn cheo leo bám bên rìa vách núi thì có “cầu sắt” được hàn, chằng buộc khá chắc chắn.
< Những nhũ đá nhọn từ trần hang đâm tua tủa xuống mặt đất.
Là nhân viên của một công ty du lịch trên địa bàn, gần chục năm trước vợ chồng ông được công ty giao nhiệm vụ ra ngoài vịnh nuôi trồng thủy sản nhằm cung cấp thực phẩm cho công ty để phục vụ khách du lịch. Ngoài nuôi trồng thủy sản, vợ chồng ông Bính còn mua dê và cả tắc kè để thả lên núi kiếm thêm thu nhập.
Và hơn ba năm trước, trong khi chăn thả dê trên các triền núi, ông Bính đã phát hiện trong lòng Hòn Phất Cờ là hệ thống hai hang động riêng biệt, với ba cửa hang ở ba hướng khác nhau (hướng đông nam, đông bắc và ở chính giữa).
< Măng đá và nhũ đá kết lại với nhau tạo thành những cột đá phía trong hang động, quá trình kiến tạo này có thể kéo dài hàng nghìn năm.
Dulichgo
Thấy vẻ đẹp “như thiên cung, tiên cảnh” của hang động, vợ chồng ông đã báo cáo công ty và được đầu tư khoảng 200 triệu đồng để làm nhà nghỉ tranh tre, mái cọ bên bãi tắm mini ngay dưới chân Hòn Phất Cờ. Tuy nhiên, chưa kịp đưa vào hoạt động, một trận bão đã “thổi bay” cơ ngơi và dập tắt ý tưởng kinh doanh của ông...
“Tháng 8 vừa qua, khi tham dự Đại hội thi đua yêu nước của tỉnh, tôi được đưa đi thăm vịnh Hạ Long và đến động Thiên Cung. Động này cũng đẹp, mọi người sững sờ trước vẻ đẹp của hang động, còn tôi thầm cười: động này chưa là gì so với vẻ đẹp, sự nguy nga của các hang động mà tôi đã phát hiện ở Hòn Phất Cờ” - ông kể.
< Ngay cạnh cửa hang, là một tầng vỏ ốc hóa thạch vốn thường tìm thấy trong các di tích khảo cổ, phát hiện này có giá trị rất lớn về địa chất, địa mạo và lịch sử hình thành vịnh Bái Tử Long.
Trở về, ông lại trình bày với lãnh đạo công ty và lại được đầu tư 100 triệu đồng để làm hệ thống đường dẫn lên cửa hang, làm hàng rào và cửa sắt...
Trao đổi với Tuổi Trẻ, bà Phạm Thùy Dương, trưởng ban quản lý vịnh Hạ Long, cho biết hai hang động do ông Bính phát hiện là hai hang động mới, chưa được cơ quan chức năng biết đến, ban quản lý cũng chưa từng thực hiện đợt khảo sát và kiểm tra nào tại khu vực này.
“Chúng tôi sẽ xác định giá trị và tiềm năng của các hang động này xem phù hợp khai thác ở lĩnh vực nào rồi mới báo cáo UBND tỉnh. Có thể bổ sung các hang động này vào quy hoạch để phục vụ công tác bảo tồn và phát huy giá trị hang động” - bà Dương nói.
< Những khối đá màu xanh lục bảo phía trong hang động.
“Thiên cung, tiên cảnh...”
Khác với những hang động mà chúng tôi từng có dịp khám phá, cửa hang của các động mới phát hiện này đều khá rộng và cách mặt nước vịnh cả trăm mét. Chúng tôi không phải mất công chui luồn bởi cửa vào hang đã có không gian rộng, thoáng, mái vòm cao. Thậm chí, hai bên cửa hang ở động giữa còn có hai cột nhũ đá lớn, thẳng tắp từ chân lên đến đỉnh vòm hang, nhìn y như hai trụ cổng làng.
Qua hai “trụ cổng” này là một không gian rộng đến gần 2.000m2, hang có vòm khá cao, phải đến 30m. Trong lòng hang là vô số nhũ đá với vô vàn hình dáng khác nhau.
< Một cột đá phía trong hang động.
Dulichgo
Nhiều nhũ đá từ mái vòm buông xuống như cánh tay nối dài và dù hang khô ráo nhưng ở mỗi đầu các thanh nhũ đều có những đụn nước đang dồn xuống, tích tụ thành giọt rồi lại nhỏ xuống nền hang, tạo nên những “mầm đá” to nhỏ khác nhau, được ông Bính gọi là “măng đá”.
“Còn nhiều hình, nhiều loại lắm, các anh xem có ý tưởng gì đặt tên giúp chứ tôi đặt tên mãi mà không thể hết” - ông Bính nói.
Vừa rọi đèn pin vào các thạch nhũ đa dạng hình dáng, ông Bính gọi tên nào là “phương trượng của Đường Tăng” (nhũ đá cao như bắp chân, nhưng phía trên đầu lại phình to, loe rộng như đầu rồng), rồi “gậy như ý Tôn Ngộ Không” (những thạch nhũ thẳng tắp), kia là quả chuông, con rùa, Phật Di Lặc, Bồ Tát, mẹ bồng con...
< Ở những nơi có ánh sáng, xuất hiện một số loại cây thuộc họ dương xỉ.
Hang động đầu tiên có cửa vào - cửa ra, nhưng ở hang động thứ hai bên cạnh chỉ có một lối vào và lối ra nhỏ hơn. Tuy nhiên phía trong hang này được ông Bính ví như “thiên cung, tiên cảnh” bởi vẻ đẹp lạ thường của thiên nhiên khi tạo nên những thạch nhũ đa dạng về hình dáng.
Phổ biến nhất trong lòng hang thứ hai này (rộng cũng đến cả ngàn mét vuông) là những thạch nhũ buông từ trên xuống như những bức rèm đá ngang với mặt người. Rồi những cột nhũ đá từ dưới đội lên, với rất nhiều trụ đá lớn mà đứng mỗi góc có thể mỗi người lại hình dung ra một dáng hình nào đó.
Trong hang này lại có nhiều “căn phòng vua chúa” bởi có những khoảng không nhỏ khoảng chục mét vuông được quây gần kín xung quanh bằng những rèm đá, thạch nhũ buông xuống.
Dulichgo
Rọi đèn pin lên trần, tùy độ cao thấp của vòm hang cùng ánh sáng mà người nhìn có thể cảm nhận có những màu vân đá xanh, xám khác nhau. Dưới nền hang thứ hai có nhiều chỗ dốc như bị nước chảy xói mòn, tạo thành những “ruộng bậc thang đá”, cũng có những chỗ nền đang lún sụt.
Đặc biệt, bên ngoài cửa hang này còn có những dấu tích chứa đựng các giá trị về địa chất, bởi ở chân những phiến đá cực lớn, nằm cách mặt nước gần 100m vẫn dễ dàng thấy các vỏ ốc hóa thạch gắn chặt vào phiến đá.
Nhiều hang có giá trị cao về khoa học và thẩm mỹ
< Từ ngoài cửa hang có thể ngắm nhìn một góc của vịnh Bái Tử Long. Do nằm trơ trọi giữa biển nên phải dùng thuyền để đến hang động này.
Bà Đỗ Thị Yến Ngọc - phó trưởng phòng kiến tạo địa mạo Viện Khoa học địa chất và khoáng sản (Bộ Tài nguyên - môi trường) - cho biết như vậy khi được hỏi về giá trị 23 hang mới được phát hiện ở vịnh Hạ Long. Theo bà Ngọc, ban quản lý (BQL) vịnh Hạ Long hiện đã có trong tay hồ sơ 36 hang, trong đó có một số hang đã khai thác và một số hang đã đóng cửa để bảo tồn.
“Trong chuyến khảo sát các hang động mới, do BQL vịnh Hạ Long phối hợp với viện chúng tôi, đã phát hiện được 23 hang, trong đó có 18 hang được đánh giá là có giá trị cao về mặt khoa học và thẩm mỹ, nhưng cần phải đầu tư thêm để nghiên cứu tiếp” - bà Ngọc khẳng định.
Theo bà Ngọc, đây đều là những hang có nguồn tiềm năng để khai thác du lịch, tới đây BQL vịnh Hạ Long sẽ xây dựng kế hoạch nghiên cứu để khai thác.
Theo báo Tuổi Trẻ
Du lịch, GO!
< Ông Nguyễn Sỹ Bính - người phát hiện hang động này cách đây 3 năm - nhìn về phía cửa hang. Hiện tại ông Bính vẫn chưa tìm được một cái tên phù hợp để đặt tên cho hang động này.
Cùng với thông tin về việc phát hiện thêm 23 hang động mới tuyệt đẹp ở vịnh Hạ Long, những ngày đầu tháng 12 này, ngư dân Nguyễn Sỹ Bính (thôn 5, xã Hạ Long, huyện Vân Đồn, cách TP Hạ Long khoảng 50km) cũng lần đầu tiên tiết lộ thông tin về hệ thống hai hang động mới mà ông đã phát hiện ở vịnh Bái Tử Long, thuộc phạm vi vịnh Hạ Long.
< Nhũ đá hay thạch nhũ được hình thành do cặn của nước nhỏ giọt đọng lại trải qua hàng trăm, nghìn năm. Nó là khoáng vật hang động thứ sinh treo trên trần hay tường của các hang động.
Qua giới thiệu và thuyết phục của người quen, ông Bính đồng ý đưa canô vào bờ để đón chúng tôi ra vịnh, đến Hòn Phất Cờ để có dịp chiêm ngưỡng vẻ đẹp của các hang động này.
Chăn dê, phát hiện hang động
Dulichgo
Từ đất liền ra đến Hòn Phất Cờ không đến 10 phút bằng canô cao tốc, nhưng giữa những ngọn núi nhỏ nhô lên trên vịnh, nếu không có người dẫn đường như ông Bính, chúng tôi không thể tin phía trong những ngọn núi nhỏ kia là những hang động cực lớn.
< Những nhũ đá khổng lồ xếp lên nhau khiến nhóm phóng viên cảm thấy rất bất ngờ.
“Vợ chồng tôi phát hiện hang này từ hơn ba năm nay nhưng mãi đến tuần trước mới đưa một nhóm người đầu tiên của một công ty du lịch cùng mấy người ở Phòng Văn hóa huyện Vân Đồn đi. Giờ đoàn các anh là nhóm thứ hai tôi đưa lên hang” - ông Bính cho biết.
Đường lên hang men theo các gờ, hốc đá nhưng đi khá dễ bởi đã được ông Bính cải tạo bằng các bậc ximăng. Có những đoạn cheo leo bám bên rìa vách núi thì có “cầu sắt” được hàn, chằng buộc khá chắc chắn.
< Những nhũ đá nhọn từ trần hang đâm tua tủa xuống mặt đất.
Là nhân viên của một công ty du lịch trên địa bàn, gần chục năm trước vợ chồng ông được công ty giao nhiệm vụ ra ngoài vịnh nuôi trồng thủy sản nhằm cung cấp thực phẩm cho công ty để phục vụ khách du lịch. Ngoài nuôi trồng thủy sản, vợ chồng ông Bính còn mua dê và cả tắc kè để thả lên núi kiếm thêm thu nhập.
Và hơn ba năm trước, trong khi chăn thả dê trên các triền núi, ông Bính đã phát hiện trong lòng Hòn Phất Cờ là hệ thống hai hang động riêng biệt, với ba cửa hang ở ba hướng khác nhau (hướng đông nam, đông bắc và ở chính giữa).
< Măng đá và nhũ đá kết lại với nhau tạo thành những cột đá phía trong hang động, quá trình kiến tạo này có thể kéo dài hàng nghìn năm.Dulichgo
Thấy vẻ đẹp “như thiên cung, tiên cảnh” của hang động, vợ chồng ông đã báo cáo công ty và được đầu tư khoảng 200 triệu đồng để làm nhà nghỉ tranh tre, mái cọ bên bãi tắm mini ngay dưới chân Hòn Phất Cờ. Tuy nhiên, chưa kịp đưa vào hoạt động, một trận bão đã “thổi bay” cơ ngơi và dập tắt ý tưởng kinh doanh của ông...
“Tháng 8 vừa qua, khi tham dự Đại hội thi đua yêu nước của tỉnh, tôi được đưa đi thăm vịnh Hạ Long và đến động Thiên Cung. Động này cũng đẹp, mọi người sững sờ trước vẻ đẹp của hang động, còn tôi thầm cười: động này chưa là gì so với vẻ đẹp, sự nguy nga của các hang động mà tôi đã phát hiện ở Hòn Phất Cờ” - ông kể.
< Ngay cạnh cửa hang, là một tầng vỏ ốc hóa thạch vốn thường tìm thấy trong các di tích khảo cổ, phát hiện này có giá trị rất lớn về địa chất, địa mạo và lịch sử hình thành vịnh Bái Tử Long.Trở về, ông lại trình bày với lãnh đạo công ty và lại được đầu tư 100 triệu đồng để làm hệ thống đường dẫn lên cửa hang, làm hàng rào và cửa sắt...
Trao đổi với Tuổi Trẻ, bà Phạm Thùy Dương, trưởng ban quản lý vịnh Hạ Long, cho biết hai hang động do ông Bính phát hiện là hai hang động mới, chưa được cơ quan chức năng biết đến, ban quản lý cũng chưa từng thực hiện đợt khảo sát và kiểm tra nào tại khu vực này.
“Chúng tôi sẽ xác định giá trị và tiềm năng của các hang động này xem phù hợp khai thác ở lĩnh vực nào rồi mới báo cáo UBND tỉnh. Có thể bổ sung các hang động này vào quy hoạch để phục vụ công tác bảo tồn và phát huy giá trị hang động” - bà Dương nói.
< Những khối đá màu xanh lục bảo phía trong hang động.“Thiên cung, tiên cảnh...”
Khác với những hang động mà chúng tôi từng có dịp khám phá, cửa hang của các động mới phát hiện này đều khá rộng và cách mặt nước vịnh cả trăm mét. Chúng tôi không phải mất công chui luồn bởi cửa vào hang đã có không gian rộng, thoáng, mái vòm cao. Thậm chí, hai bên cửa hang ở động giữa còn có hai cột nhũ đá lớn, thẳng tắp từ chân lên đến đỉnh vòm hang, nhìn y như hai trụ cổng làng.
Qua hai “trụ cổng” này là một không gian rộng đến gần 2.000m2, hang có vòm khá cao, phải đến 30m. Trong lòng hang là vô số nhũ đá với vô vàn hình dáng khác nhau.
< Một cột đá phía trong hang động.Dulichgo
Nhiều nhũ đá từ mái vòm buông xuống như cánh tay nối dài và dù hang khô ráo nhưng ở mỗi đầu các thanh nhũ đều có những đụn nước đang dồn xuống, tích tụ thành giọt rồi lại nhỏ xuống nền hang, tạo nên những “mầm đá” to nhỏ khác nhau, được ông Bính gọi là “măng đá”.
“Còn nhiều hình, nhiều loại lắm, các anh xem có ý tưởng gì đặt tên giúp chứ tôi đặt tên mãi mà không thể hết” - ông Bính nói.
Vừa rọi đèn pin vào các thạch nhũ đa dạng hình dáng, ông Bính gọi tên nào là “phương trượng của Đường Tăng” (nhũ đá cao như bắp chân, nhưng phía trên đầu lại phình to, loe rộng như đầu rồng), rồi “gậy như ý Tôn Ngộ Không” (những thạch nhũ thẳng tắp), kia là quả chuông, con rùa, Phật Di Lặc, Bồ Tát, mẹ bồng con...
< Ở những nơi có ánh sáng, xuất hiện một số loại cây thuộc họ dương xỉ.Hang động đầu tiên có cửa vào - cửa ra, nhưng ở hang động thứ hai bên cạnh chỉ có một lối vào và lối ra nhỏ hơn. Tuy nhiên phía trong hang này được ông Bính ví như “thiên cung, tiên cảnh” bởi vẻ đẹp lạ thường của thiên nhiên khi tạo nên những thạch nhũ đa dạng về hình dáng.
Phổ biến nhất trong lòng hang thứ hai này (rộng cũng đến cả ngàn mét vuông) là những thạch nhũ buông từ trên xuống như những bức rèm đá ngang với mặt người. Rồi những cột nhũ đá từ dưới đội lên, với rất nhiều trụ đá lớn mà đứng mỗi góc có thể mỗi người lại hình dung ra một dáng hình nào đó.
Trong hang này lại có nhiều “căn phòng vua chúa” bởi có những khoảng không nhỏ khoảng chục mét vuông được quây gần kín xung quanh bằng những rèm đá, thạch nhũ buông xuống.Dulichgo
Rọi đèn pin lên trần, tùy độ cao thấp của vòm hang cùng ánh sáng mà người nhìn có thể cảm nhận có những màu vân đá xanh, xám khác nhau. Dưới nền hang thứ hai có nhiều chỗ dốc như bị nước chảy xói mòn, tạo thành những “ruộng bậc thang đá”, cũng có những chỗ nền đang lún sụt.
Đặc biệt, bên ngoài cửa hang này còn có những dấu tích chứa đựng các giá trị về địa chất, bởi ở chân những phiến đá cực lớn, nằm cách mặt nước gần 100m vẫn dễ dàng thấy các vỏ ốc hóa thạch gắn chặt vào phiến đá.
Nhiều hang có giá trị cao về khoa học và thẩm mỹ
< Từ ngoài cửa hang có thể ngắm nhìn một góc của vịnh Bái Tử Long. Do nằm trơ trọi giữa biển nên phải dùng thuyền để đến hang động này.Bà Đỗ Thị Yến Ngọc - phó trưởng phòng kiến tạo địa mạo Viện Khoa học địa chất và khoáng sản (Bộ Tài nguyên - môi trường) - cho biết như vậy khi được hỏi về giá trị 23 hang mới được phát hiện ở vịnh Hạ Long. Theo bà Ngọc, ban quản lý (BQL) vịnh Hạ Long hiện đã có trong tay hồ sơ 36 hang, trong đó có một số hang đã khai thác và một số hang đã đóng cửa để bảo tồn.
“Trong chuyến khảo sát các hang động mới, do BQL vịnh Hạ Long phối hợp với viện chúng tôi, đã phát hiện được 23 hang, trong đó có 18 hang được đánh giá là có giá trị cao về mặt khoa học và thẩm mỹ, nhưng cần phải đầu tư thêm để nghiên cứu tiếp” - bà Ngọc khẳng định.
Theo bà Ngọc, đây đều là những hang có nguồn tiềm năng để khai thác du lịch, tới đây BQL vịnh Hạ Long sẽ xây dựng kế hoạch nghiên cứu để khai thác.
Theo báo Tuổi Trẻ
Du lịch, GO!
Thứ Sáu, 4 tháng 12, 2015
Hòn Nẹ trong đời sống văn hóa cư dân xứ Thanh
(VHĐS) - Vùng biển Thanh Hóa gồm có ba hòn đảo lớn đó là đảo Hòn Nẹ nằm ở phía Bắc thuộc xã Hải Tiến huyện Hoằng Hóa, về phía Nam là đảo Mê nằm tại xã Hải Bình và hòn đảo Biện Sơn thuộc xã Nghi Sơn, huyện Tĩnh Gia.
<Ngắm Hòn Nẹ bằng dù lượn xuất phát từ biển Hải Tiến.
Và đảo Hòn Nẹ được đánh giá là hòn đảo đẹp nhất tại Thanh Hóa, hòn đảo nằm ngoài khơi vịnh Bắc Bộ, Biển Đông cách bờ biển Hoằng Hóa khoảng 5 km về phía Đông Bắc.
Về Hòn Nẹ hôm nay, chúng ta lại nhớ đến bài thơ Mẹ Tơm của nhà thơ Tố Hữu với những câu:
“Hòn Nẹ ta ơi, mảng về chưa đó,
Có nhiều không con nục, con thu?
……
Bãi cát vàng thau in bóng mẹ Chiều về,
Hòn Nẹ… biển reo quanh…”.
Đảo Nẹ cách bờ biển xã Ngư Lộc, huyện Hậu Lộc 6 km về phía Đông, đây là một cù lao đồi dài gần 900m, bề ngang nơi rộng nhất 400m, hướng Tây Nam - Đông Bắc, cao nhất về góc Tây Nam (có đỉnh 70,8m), thấp dần về bờ đảo Đông Bắc. Trung tâm đảo là điểm gặp nhau của kinh tuyến 106000’12’’ Đông và vĩ tuyến 19054’50’’ Bắc. Đảo Nẹ vừa là vị trí quân sự tiền tiêu mặt Đông của huyện Hậu Lộc, vừa là cột mốc chỉ đường cho tàu thuyền đánh cá ngoài khơi xa tìm về đúng bến, vừa là nơi trú ẩn an toàn cho thuyền bè khi có sóng to gió lớn.
Dulichgo
Đảo Nẹ cùng với các đảo nhỏ (hòn Bò, hòn Sụp) và núi Linh Trường (huyện Hoằng Hóa) tạo thành một cánh cung án ngữ sóng gió mặt Nam và mặt Đông. Nhờ địa thế này, từ những ngày đầu lịch sử, con người đã tụ tập khá đông đúc tại nơi đây sinh sống chủ yếu bằng nghề đánh cá. Khoảng thế kỷ I, II trước Công nguyên, thành lũy huyện Dư Phát thuộc quận Cửu Chân đã xây dựng ở đây.
Thời Lý - Trần, Duy Tinh là nơi trấn trị thủ phủ Ái Châu. Vào những thế kỷ trước và sau Công nguyên vùng biển này đã từng là thương cảng quan trọng trên đường hàng hải từ Trung Quốc đến các nước Đông Nam Á và Ấn Độ. Trong không gian địa – văn hóa, địa – chính trị, văn hóa Lạch Trường đã ra đời ở đây, nơi giao thoa, hội nhập đầy đủ sống động đã được các học giả người Pháp như: Bêgiaxiê đặc biệt chú trọng. Dưới các triều đại phong kiến độc lập, lần nào hành quân vào phương Nam trừng trị bọn phong kiến láng giềng đe dọa bờ cõi nước ta, thủy quân Đại Việt đều lấy cửa biển Lạch Trường làm vị trí xuất quân. Trong chống Pháp và chống Mỹ vùng biển này cũng là một trong những đầu mối giao thông lớn vào Nam ra Bắc và là điểm tựa chiến đấu của tàu hải quân ta chống lại những cuộc tấn công của kẻ thù.
Ngoài vị trí chiến lược, vùng đảo Nẹ còn là danh thắng hữu tình. Theo “Đại Nam nhất thống chí” vào năm Hồng Đức thứ 7 vua Lê Thánh Tông có lần qua đây đã cảm tác bài thơ vịnh cảnh “Linh sơn hải khẩu” vịnh về non nước, nơi đây và bài tựa nói: “Bên cạnh nước biển, núi xanh cao chót vót, hình núi dị kỳ đứng sững cửa biển, chân núi có động sâu thẳm không cùng ….”
Dulichgo
Nhân dân vùng Quang Lộc lưu truyền hai huyền thoại về “Gia đình nhà Núi” với khá nhiều chi tiết độc đáo, hấp dẫn, theo đó hòn Nẹ được coi là con của núi Sỏi và núi Chúa và là mẹ của núi Bần..
Để trụ vững nơi đầu sóng ngọn gió, người dân đi biển phải dựa vào lực lượng siêu nhiên nào đó để nhân lên sức mạnh tinh thần, chính điều đó đã hình thành và mang đến cho người dân nơi đây tín ngưỡng và tục thờ thủy thần để cầu ngư, cầu sóng yên biển lặng, không bão tố lụt lội, mong thần linh che chở, bảo hộ trên sông biển mỗi khi ra khơi vào lộng, giúp những thương thuyền buôn bán ngược xuôi và cả những người trồng lúa phụ thuộc hoàn toàn vào thời tiết.
Tục thờ cá voi (ông Nam Hải) gắn với một hiện tượng có thật về cá voi hay cứu người, cứu thuyền lúc bão tố ngoài khơi và lễ hội cầu ngư được tổ chức ở đây với những nghi thức trang trọng, thành kính. Cùng với các làng trong đất liền, tại Đảo Nẹ người ta cũng cho xây dựng một ngôi đền thờ thủy thần.
Cứ ba năm lễ hội lớn ở làng Diêm Phố được tổ chức định kỳ vào mùa xuân, trong ba ngày, từ 22 đến ngày 24 tháng 2 âm lịch. Tín ngưỡng này gắn liền với lễ hội Cầu Ngư (xưa còn gọi là Cầu Mát) thờ các vị thần biển và đám rước Hội đồng thần linh của làng, đó là một trong những lễ hội lớn nhất của ngư dân không chỉ ở Hậu Lộc mà còn có sức thu hút cả những ngư dân miền biển tỉnh Thanh về dự.
Lễ hội kéo dài trong ba ngày liền. Ngày đầu tiên (ngày 22) tùy theo con nước lớn ròng để thuyền cập vào đảo, dân làng tổ chức rước kiệu từ đền thờ cá Ông lên thuyền ra đảo Nẹ. Sau khi đám rước từ đảo Nẹ về thì yên vị tại khu thờ tự của làng để sáng hôm sau (ngày 23) rước về đàn tế. Xưa, trong lễ hội còn tổ chức hát bội (hát tuồng) tại đền thờ cá Ông.
Sáng ngày 24, dân làng rước cỗ từ nhà trọ tới đàn tế. Tại đàn tế, dân làng tề tựu đông đủ để tế lễ Đức Ông Nam Hải và các vị thủy thần, sau đó rước Long Châu đến cửa biển chỗ giao nhau của thủy triều nơi nước sông gặp nước biển để tiễn Long Châu về với biển khơi.
Dulichgo
Với những nghi lễ như vậy dân làng tin rằng cá Voi và các vị thần linh sẽ phù hộ độ trì cho thuyền bè của họ được "xuôi chèo mát mái", cuộc sống no đủ, bình yên, hạnh phúc. Trong lễ hội cầu ngư dân làng thường tổ chức bơi thuyền làm đẹp lòng các vị thần biển và cá Voi vừa để rèn luyện sức khỏe dẻo dai, sự lanh lợi của ngư dân làm nghề chài lưới trên sông biển.
Ở vào khu vực có nhiều cửa lạch châu tuần. Vùng biển nơi đây thuộc diện nông, yếu tố nhiệt độ trong nước ít diễn biến phức tạp, là nơi tụ họp của nhiều loại thủy sản có giá trị kinh tế cao như: cá thu, cá nụ, cá nhám, cá rưa..., tôm hùm, tôm he, mực ống, mực ván, ốc hương... nơi đây thực sự tiềm tàng nhiều khả năng phát triển kinh tế phồn thịnh.
Nhà thơ Tố Hữu có những câu thơ hay về vùng biển đảo này: “Hòn Nẹ ta ơi, mảng về chưa đó/Có nhiều không con nục, con thu/Chào những buồm nâu, thuyền câu Diêm Phố/Nhớ nhau chăng hỡi Hanh Cát, Hanh Cù”.
Dulichgo
Thiên nhiên và lịch sử đã đem lại cho nơi đây một vùng thắng cảnh sơn thủy hữu tình, có biển cả giàu đẹp, gắn với một vùng quê đầy ắp những huyền thoại và cổ tích, với những ngày hội làng náo nức của những người dân, hiền hòa, nhân hậu và mến khách. Du khách đến nơi đây sẽ được thưởng thức nhiều món ăn dân dã đậm đà hương vị của xứ Thanh, với các loại đặc sản: Cá trích ăn với bánh đa/Vợ ăn, chồng bảo về nhà đỡ cơm/Chợ Hôm rất lắm ốc hương/Ăn dăm ba chục vấn vương nơi này.
Với vị trí địa lý tự nhiên hiếm có, trong điều kiện phát triển của một nền kinh tế mở, khu vực biển đảo này còn tiềm ẩn một tiềm năng dồi dào về du lịch nghỉ dưỡng, về du lịch biển đảo, du lịch sinh thái và khám phá thiên nhiên. Một ngành công nghiệp có giá trị cao và phát triển bền vững.
Được sự hỗ trợ đầu tư của Nhà nước, với ý thức bảo vệ chủ quyền biển đảo, quân dân Đảo Nẹ đang đóng những con tàu vỏ sắt và trang bị mạng lưới thông tin cao để vượt sóng ra khơi bám biển dài ngày. Đánh bắt thủy sản nâng cao phát triển đời sống kinh tế và cùng với đảo Nẹ bảo vệ biển trời, lãnh hải thiêng liêng của Tổ quốc.
Theo Đồng Văn Luân (Văn Hóa & Đời Sống)
Du lịch, GO!
Một chuyến ra đảo Hòn Nẹ
<Ngắm Hòn Nẹ bằng dù lượn xuất phát từ biển Hải Tiến.
Và đảo Hòn Nẹ được đánh giá là hòn đảo đẹp nhất tại Thanh Hóa, hòn đảo nằm ngoài khơi vịnh Bắc Bộ, Biển Đông cách bờ biển Hoằng Hóa khoảng 5 km về phía Đông Bắc.
Về Hòn Nẹ hôm nay, chúng ta lại nhớ đến bài thơ Mẹ Tơm của nhà thơ Tố Hữu với những câu:
“Hòn Nẹ ta ơi, mảng về chưa đó,
Có nhiều không con nục, con thu?
……
Bãi cát vàng thau in bóng mẹ Chiều về,
Hòn Nẹ… biển reo quanh…”.
Đảo Nẹ cách bờ biển xã Ngư Lộc, huyện Hậu Lộc 6 km về phía Đông, đây là một cù lao đồi dài gần 900m, bề ngang nơi rộng nhất 400m, hướng Tây Nam - Đông Bắc, cao nhất về góc Tây Nam (có đỉnh 70,8m), thấp dần về bờ đảo Đông Bắc. Trung tâm đảo là điểm gặp nhau của kinh tuyến 106000’12’’ Đông và vĩ tuyến 19054’50’’ Bắc. Đảo Nẹ vừa là vị trí quân sự tiền tiêu mặt Đông của huyện Hậu Lộc, vừa là cột mốc chỉ đường cho tàu thuyền đánh cá ngoài khơi xa tìm về đúng bến, vừa là nơi trú ẩn an toàn cho thuyền bè khi có sóng to gió lớn.
Dulichgo
Đảo Nẹ cùng với các đảo nhỏ (hòn Bò, hòn Sụp) và núi Linh Trường (huyện Hoằng Hóa) tạo thành một cánh cung án ngữ sóng gió mặt Nam và mặt Đông. Nhờ địa thế này, từ những ngày đầu lịch sử, con người đã tụ tập khá đông đúc tại nơi đây sinh sống chủ yếu bằng nghề đánh cá. Khoảng thế kỷ I, II trước Công nguyên, thành lũy huyện Dư Phát thuộc quận Cửu Chân đã xây dựng ở đây.
Thời Lý - Trần, Duy Tinh là nơi trấn trị thủ phủ Ái Châu. Vào những thế kỷ trước và sau Công nguyên vùng biển này đã từng là thương cảng quan trọng trên đường hàng hải từ Trung Quốc đến các nước Đông Nam Á và Ấn Độ. Trong không gian địa – văn hóa, địa – chính trị, văn hóa Lạch Trường đã ra đời ở đây, nơi giao thoa, hội nhập đầy đủ sống động đã được các học giả người Pháp như: Bêgiaxiê đặc biệt chú trọng. Dưới các triều đại phong kiến độc lập, lần nào hành quân vào phương Nam trừng trị bọn phong kiến láng giềng đe dọa bờ cõi nước ta, thủy quân Đại Việt đều lấy cửa biển Lạch Trường làm vị trí xuất quân. Trong chống Pháp và chống Mỹ vùng biển này cũng là một trong những đầu mối giao thông lớn vào Nam ra Bắc và là điểm tựa chiến đấu của tàu hải quân ta chống lại những cuộc tấn công của kẻ thù.
Ngoài vị trí chiến lược, vùng đảo Nẹ còn là danh thắng hữu tình. Theo “Đại Nam nhất thống chí” vào năm Hồng Đức thứ 7 vua Lê Thánh Tông có lần qua đây đã cảm tác bài thơ vịnh cảnh “Linh sơn hải khẩu” vịnh về non nước, nơi đây và bài tựa nói: “Bên cạnh nước biển, núi xanh cao chót vót, hình núi dị kỳ đứng sững cửa biển, chân núi có động sâu thẳm không cùng ….”
Dulichgo
Nhân dân vùng Quang Lộc lưu truyền hai huyền thoại về “Gia đình nhà Núi” với khá nhiều chi tiết độc đáo, hấp dẫn, theo đó hòn Nẹ được coi là con của núi Sỏi và núi Chúa và là mẹ của núi Bần..
Để trụ vững nơi đầu sóng ngọn gió, người dân đi biển phải dựa vào lực lượng siêu nhiên nào đó để nhân lên sức mạnh tinh thần, chính điều đó đã hình thành và mang đến cho người dân nơi đây tín ngưỡng và tục thờ thủy thần để cầu ngư, cầu sóng yên biển lặng, không bão tố lụt lội, mong thần linh che chở, bảo hộ trên sông biển mỗi khi ra khơi vào lộng, giúp những thương thuyền buôn bán ngược xuôi và cả những người trồng lúa phụ thuộc hoàn toàn vào thời tiết.
Tục thờ cá voi (ông Nam Hải) gắn với một hiện tượng có thật về cá voi hay cứu người, cứu thuyền lúc bão tố ngoài khơi và lễ hội cầu ngư được tổ chức ở đây với những nghi thức trang trọng, thành kính. Cùng với các làng trong đất liền, tại Đảo Nẹ người ta cũng cho xây dựng một ngôi đền thờ thủy thần.
Cứ ba năm lễ hội lớn ở làng Diêm Phố được tổ chức định kỳ vào mùa xuân, trong ba ngày, từ 22 đến ngày 24 tháng 2 âm lịch. Tín ngưỡng này gắn liền với lễ hội Cầu Ngư (xưa còn gọi là Cầu Mát) thờ các vị thần biển và đám rước Hội đồng thần linh của làng, đó là một trong những lễ hội lớn nhất của ngư dân không chỉ ở Hậu Lộc mà còn có sức thu hút cả những ngư dân miền biển tỉnh Thanh về dự.
Lễ hội kéo dài trong ba ngày liền. Ngày đầu tiên (ngày 22) tùy theo con nước lớn ròng để thuyền cập vào đảo, dân làng tổ chức rước kiệu từ đền thờ cá Ông lên thuyền ra đảo Nẹ. Sau khi đám rước từ đảo Nẹ về thì yên vị tại khu thờ tự của làng để sáng hôm sau (ngày 23) rước về đàn tế. Xưa, trong lễ hội còn tổ chức hát bội (hát tuồng) tại đền thờ cá Ông.
Sáng ngày 24, dân làng rước cỗ từ nhà trọ tới đàn tế. Tại đàn tế, dân làng tề tựu đông đủ để tế lễ Đức Ông Nam Hải và các vị thủy thần, sau đó rước Long Châu đến cửa biển chỗ giao nhau của thủy triều nơi nước sông gặp nước biển để tiễn Long Châu về với biển khơi.
Dulichgo
Với những nghi lễ như vậy dân làng tin rằng cá Voi và các vị thần linh sẽ phù hộ độ trì cho thuyền bè của họ được "xuôi chèo mát mái", cuộc sống no đủ, bình yên, hạnh phúc. Trong lễ hội cầu ngư dân làng thường tổ chức bơi thuyền làm đẹp lòng các vị thần biển và cá Voi vừa để rèn luyện sức khỏe dẻo dai, sự lanh lợi của ngư dân làm nghề chài lưới trên sông biển.
Ở vào khu vực có nhiều cửa lạch châu tuần. Vùng biển nơi đây thuộc diện nông, yếu tố nhiệt độ trong nước ít diễn biến phức tạp, là nơi tụ họp của nhiều loại thủy sản có giá trị kinh tế cao như: cá thu, cá nụ, cá nhám, cá rưa..., tôm hùm, tôm he, mực ống, mực ván, ốc hương... nơi đây thực sự tiềm tàng nhiều khả năng phát triển kinh tế phồn thịnh.
Nhà thơ Tố Hữu có những câu thơ hay về vùng biển đảo này: “Hòn Nẹ ta ơi, mảng về chưa đó/Có nhiều không con nục, con thu/Chào những buồm nâu, thuyền câu Diêm Phố/Nhớ nhau chăng hỡi Hanh Cát, Hanh Cù”.
Dulichgo
Thiên nhiên và lịch sử đã đem lại cho nơi đây một vùng thắng cảnh sơn thủy hữu tình, có biển cả giàu đẹp, gắn với một vùng quê đầy ắp những huyền thoại và cổ tích, với những ngày hội làng náo nức của những người dân, hiền hòa, nhân hậu và mến khách. Du khách đến nơi đây sẽ được thưởng thức nhiều món ăn dân dã đậm đà hương vị của xứ Thanh, với các loại đặc sản: Cá trích ăn với bánh đa/Vợ ăn, chồng bảo về nhà đỡ cơm/Chợ Hôm rất lắm ốc hương/Ăn dăm ba chục vấn vương nơi này.
Với vị trí địa lý tự nhiên hiếm có, trong điều kiện phát triển của một nền kinh tế mở, khu vực biển đảo này còn tiềm ẩn một tiềm năng dồi dào về du lịch nghỉ dưỡng, về du lịch biển đảo, du lịch sinh thái và khám phá thiên nhiên. Một ngành công nghiệp có giá trị cao và phát triển bền vững.
Được sự hỗ trợ đầu tư của Nhà nước, với ý thức bảo vệ chủ quyền biển đảo, quân dân Đảo Nẹ đang đóng những con tàu vỏ sắt và trang bị mạng lưới thông tin cao để vượt sóng ra khơi bám biển dài ngày. Đánh bắt thủy sản nâng cao phát triển đời sống kinh tế và cùng với đảo Nẹ bảo vệ biển trời, lãnh hải thiêng liêng của Tổ quốc.
Theo Đồng Văn Luân (Văn Hóa & Đời Sống)
Du lịch, GO!
Một chuyến ra đảo Hòn Nẹ
Thứ Tư, 2 tháng 12, 2015
Biển Quảng Ngãi hút hồn du khách
(BTT) - Tỉnh Quảng Ngãi có nhiều bãi biển sạch, đẹp, có nhiều tiềm năng để phát triển thành khu du lịch nghỉ dưỡng hấp dẫn, đó là các bãi biển Khe Hai, Nho Na, An Cường, Thanh Thủy (huyện Bình Sơn); Mỹ Khê (TP Quảng Ngãi), Minh Tân (Mộ Đức), Sa Huỳnh (Đức Phổ).
Bên cạnh đó, tại huyện đảo Lý Sơn cũng có một số bãi biển rất sạch đẹp, du khách đã đến một lần khó quên như bãi biển phía đông đảo (đảo Lớn) và bãi biển quanh đảo Bé (xã An Bình). Những bãi biển trên đã và đang trở thành thương hiệu du lịch biển - đảo của Quảng Ngãi.
Bãi biển Mỹ Khê (TP Quảng Ngãi) trước đây thuộc thôn Cổ Lũy, xã Tịnh Khê, huyện Sơn Tịnh; từ tháng 4/2014 được nhập vào TP Quảng Ngãi, cách trung tâm TP Quảng Ngãi 14 km về phía đông - bắc. Đây là bãi tắm lý tưởng chạy dài 7 km, với không gian mênh mông, bãi cát mịn, thoai thoải, được che chắn kín đáo, phía sau là rừng dương xanh thẳm, bên cạnh là con sông Kinh - rừng dừa nước huyền thoại, trong những năm chiến tranh là căn cứ địa cách mạng của cán bộ, du kích của huyện và xã Tịnh Khê.
Dulichgo
Hiện nay tỉnh Quảng Ngãi đã có qui hoạch tổng thể khu du lịch Mỹ Khê với diện tích 342 ha để xây dựng các khu vui chơi, giải trí và nghỉ ngơi như khách sạn Mỹ Khê, khu dành làm nơi cắm trại…
Còn bãi biển Sa Huỳnh nằm ở cực nam tỉnh Quảng Ngãi, thuộc xã Phổ Thạnh và Phổ Châu, huyện Đức Phổ, cách TP Quảng Ngãi 60 km về phía Nam. Địa danh Sa Huỳnh xa xưa người dân nơi đây gọi là Sa Hoàng, có nghĩa là cát vàng. Thật vậy, màu cát ở đây không trắng như ở nơi khác mà lại có màu vàng óng ánh thật đẹp. Sở dĩ, phải viết thành Sa Huỳnh, vì chữ “Hoàng” trùng tên Chúa Nguyễn Hoàng thời Nguyễn.
Sa Huỳnh là bãi biển sạch đẹp vào bậc nhất tỉnh, nơi đây còn nổi tiếng là vựa muối quan trọng không những của tỉnh Quảng Ngãi, mà của cả miền Trung. Lâu nay, Sa Huỳnh được biết đến là di chỉ khảo cổ học với “Văn hóa Sa Huỳnh”, bãi biển này nằm sát quốc lộ 1A. Bãi biển rất thuận tiện cho du khách đến nghỉ ngơi, tham quan, những năm gần đây mới được xây dựng nhiều nhà nghỉ, khách sạn để du khách dừng chân nghỉ rồi tiếp tục hành trình trên chặng đường từ Bắc vào Nam hay ngược lại.
Biển Khe Hai hay còn gọi là biển Thiên Đàng, thuộc xã Bình Thạnh, huyện Bình Sơn, cách TP Quảng Ngãi 35 km về phía bắc, tiếp giáp với biển Rạng (Quảng Nam). Bãi biển Khe Hai có bãi cát trắng mịn, rặng phi lao ngút ngàn bên bờ biển xanh. Phía tây có dãy Bàn Than chạy dài từ bờ rồi lấn ra biển tạo thành một vòng cung. Phía đông sát bờ biển có ốc đảo Hòn Ông, Hòn Trà. Với hai địa danh này, du khách có thể lên thuyền đến Hòn Trà, Hòn Ông khám phá những hang động kỳ thú, hoặc men theo bãi đá ngầm bắt ốc đụn, câu cá, vui chơi thoải mái suốt ngày không chán.
Đi về phía nam dọc xã Bình Trị, Bình Châu có vịnh Nho Na xinh đẹp và một vùng biển còn hoang sơ với tên gọi Thanh Thủy, Lệ Thủy, An Cường, mũi Ba Làng An và vịnh Mỹ Hàn với làn nước xanh biếc, sóng nhẹ êm và rất nhiều bãi cát vàng óng ánh, đây là những bãi biển du khách đến tắm biển tuyệt vời của huyện Bình Sơn.
Dulichgo
Ngoài những bãi biển tuyệt đẹp ven bờ, du khách có thể đi tàu cao tốc từ cảng Sa Kỳ đến thăm đảo Lý Sơn - một huyện đảo đang “hot” nhất hiện nay. Đến với Lý Sơn, ngoài việc đi tắm biển tại các bãi biển phía đông đảo (xã An Hải) hoặc đi tàu ra đảo Bé (xã An Bình) cách đảo lớn khoảng 3 hải lý, du khách còn được đắm mình trong những thắng cảnh đẹp nguyên sơ, bãi biển trong xanh khó có nơi nào sánh được, nhất là mùa hè du khách xuống tắm nhìn những đàn cá bơi trong làn nước xanh, những rặng san hô tuyệt đẹp.
Du khách còn đi tham quan các danh lam thắng cảnh như chùa Hang 300 tuổi, chùa Đục nằm dưới chân miệng núi lửa, tượng Phật bà cao 27 m nhìn ra đảo Bé, và cả những kiến trúc cổ độc đáo ở đền thờ Lăng Chánh, đình làng An Hải, đình làng An Vĩnh - với hàng trăm năm nay người dân Lý Sơn hàng năm vẫn tổ chức Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa; đến “mục sở thị” cột cờ Tổ quốc trên đỉnh núi Thới Lới sẽ nhìn tổng quát cả đảo Lý Sơn với các làng quê và các cánh đồng trồng hành, tỏi của “Vương quốc tỏi”; thăm hàng chục ngôi nhà cổ; thăm tượng đài và nhà trưng bày Hải đội Hoàng Sa Bắc hải ngay tại Trung tâm huyện…
Lễ hội điện Trường Bà ở Trà Bông
Di tích điện Trường Bà (huyện Trà Bông, Quảng Ngãi) nằm cách thành phố Quảng Ngãi 52 km về phía tây - bắc, gắn liền với quá trình tụ cư lập nghiệp của người Việt trong buổi đầu đi mở đất ở phía nam. Năm 1993, di tích này được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh, đến đầu tháng 5/2014, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quyết định xếp hạng là Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.
Hàng năm vào ngày 15 - 17/4 âm lịch, huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi tổ chức lễ hội điện Trường Bà. Đây là lễ thức tích hợp văn hóa từ nhiều nguồn văn hóa Việt, Chămpa, Hoa, Cor và các dân tộc thiểu số khác, trong đó văn hóa Việt là cốt lõi. Lễ hội thể hiện ý nghĩa nhân văn sâu sắc tạo sự đoàn kết dân tộc, có giá trị nâng cao nhận thức về giáo dục, đạo đức và thẩm mỹ đối với các tầng lớp nhân dân ở nhiều vùng miền đất nước.
Dulichgo
Lễ hội diễn ra với nhiều hoạt động đặc sắc, thể hiện lòng thờ kính, biết ơn đối với Thánh mẫu Thiên Y-A-Na và các vị thần khác được nhân dân địa phương thờ phụng từ hàng trăm năm nay. Các hoạt động chính của lễ hội điện Trường Bà được tổ chức vào đúng ngày 16/4 âm lịch. Đây được gọi là lễ Lệ xuân Trường Bà - một trong hai lễ hội được tổ chức tại điện Trường Bà hàng năm. Lễ hội được tổ chức thành nhiều phần khác nhau chủ yếu gồm: Lễ Mộc Dục, lễ tế ngoại đàn, lễ hội hiến trâu, cồng chiêng, múa Cadháu (cà đáo), lễ chánh tế, lễ hội Hoa đăng, và phần hội với nhiều hoạt động dân gian mang tính đặc trưng riêng như: Biểu diễn võ thuật, cồng chiêng các dân tộc; diễn tuồng, hát bộ, bài chòi, thi đấu cờ người, múa lân, thi đấu bóng chuyền, hát dân ca địa phương, đi cà kheo, kéo co; biểu diễn hát bá trạo, tuồng…
Trong các hoạt động lễ hội tại điện Trường Bà còn thể hiện sự giao thoa văn hóa đậm nét giữa các dân tộc anh em nhất là giữa đồng bào Cor và Kinh. Nếu như lễ tế ngoại đàn, chánh tế thể hiện văn hóa của người Việt, thì lễ hiến trâu, múa cồng chiêng… mang nét đặc trưng của đồng bào Cor. Không chỉ vậy, phần nghi thức được thực thi trong lễ hội và các vật phẩm cống lễ cũng mang âm hưởng văn hóa của một số dân tộc anh em khác trong vùng...
Bốn đặc sản xứ Quảng
Tỉnh Quảng Ngãi có 4 đặc sản của tỉnh được xác lập Kỷ lục Việt Nam, gồm cá bống sông Trà, don, kẹo gương và quế Trà Bồng. Đồng thời, cá bống sông Trà và món don cũng được lọt vào tốp 50 món ăn đặc sản nổi tiếng Việt Nam; kẹo gương là một trong 10 đặc sản kẹo nổi tiếng Việt Nam và quế Trà Bồng có mặt trong tốp 10 đặc sản thiên nhiên nổi tiếng Việt Nam.
Cá bống sông Trà ngon nhất vào mùa hè, ngư dân thường bắt cá bống bằng ống trống (ống tre dài khoảng 1 m, trống hai đầu, dùng một cọc nhọn cắm xuống nước). Muốn kho cá thật ngon thì con cá phải còn sống và sử dụng những đặc sản đúng hương vị xứ Quảng. Sau khi kho, cá có vị cay cay mặn mặn của gia vị, thơm dai của thịt cá.
Dulichgo
Quế Trà Bồng có lượng tinh dầu cao và mùi hương đặc biệt. Các tài liệu khoa học đã chứng minh giá trị y học rất cao của quế Trà Bồng khi sử dụng làm gia vị, hương liệu hoặc chiết xuất để lấy tinh dầu. Đặc biệt, có thể sử dụng vỏ quế, gỗ quế và lá quế làm nên các sản phẩm độc đáo, được thị trường ưa chuộng.
Đặc sản kẹo gương lại trong như pha lê, đẹp như bức tranh tĩnh vật với màu vàng ươm của đậu phụng, trắng vàng của mè và mong manh như tấm gương dễ vỡ.
Còn don là một trong những món ăn rất độc đáo của người Quảng Ngãi, nhẹ, mát, bổ, rẻ tiền nhưng rất hấp dẫn. Ruột don ít nhưng nước don thơm ngon, vừa ngọt vừa thanh. Những món ăn ngon được chế biến từ don như canh don, cháo don, gỏi don.
Theo Nguyễn Đăng Lâm (Báo Tin Tức)
Du lịch, GO!
Biển Quảng Ngãi - Những nàng tiên bị bỏ quên
Bên cạnh đó, tại huyện đảo Lý Sơn cũng có một số bãi biển rất sạch đẹp, du khách đã đến một lần khó quên như bãi biển phía đông đảo (đảo Lớn) và bãi biển quanh đảo Bé (xã An Bình). Những bãi biển trên đã và đang trở thành thương hiệu du lịch biển - đảo của Quảng Ngãi.
Bãi biển Mỹ Khê (TP Quảng Ngãi) trước đây thuộc thôn Cổ Lũy, xã Tịnh Khê, huyện Sơn Tịnh; từ tháng 4/2014 được nhập vào TP Quảng Ngãi, cách trung tâm TP Quảng Ngãi 14 km về phía đông - bắc. Đây là bãi tắm lý tưởng chạy dài 7 km, với không gian mênh mông, bãi cát mịn, thoai thoải, được che chắn kín đáo, phía sau là rừng dương xanh thẳm, bên cạnh là con sông Kinh - rừng dừa nước huyền thoại, trong những năm chiến tranh là căn cứ địa cách mạng của cán bộ, du kích của huyện và xã Tịnh Khê.
Dulichgo
Hiện nay tỉnh Quảng Ngãi đã có qui hoạch tổng thể khu du lịch Mỹ Khê với diện tích 342 ha để xây dựng các khu vui chơi, giải trí và nghỉ ngơi như khách sạn Mỹ Khê, khu dành làm nơi cắm trại…
Còn bãi biển Sa Huỳnh nằm ở cực nam tỉnh Quảng Ngãi, thuộc xã Phổ Thạnh và Phổ Châu, huyện Đức Phổ, cách TP Quảng Ngãi 60 km về phía Nam. Địa danh Sa Huỳnh xa xưa người dân nơi đây gọi là Sa Hoàng, có nghĩa là cát vàng. Thật vậy, màu cát ở đây không trắng như ở nơi khác mà lại có màu vàng óng ánh thật đẹp. Sở dĩ, phải viết thành Sa Huỳnh, vì chữ “Hoàng” trùng tên Chúa Nguyễn Hoàng thời Nguyễn.
Sa Huỳnh là bãi biển sạch đẹp vào bậc nhất tỉnh, nơi đây còn nổi tiếng là vựa muối quan trọng không những của tỉnh Quảng Ngãi, mà của cả miền Trung. Lâu nay, Sa Huỳnh được biết đến là di chỉ khảo cổ học với “Văn hóa Sa Huỳnh”, bãi biển này nằm sát quốc lộ 1A. Bãi biển rất thuận tiện cho du khách đến nghỉ ngơi, tham quan, những năm gần đây mới được xây dựng nhiều nhà nghỉ, khách sạn để du khách dừng chân nghỉ rồi tiếp tục hành trình trên chặng đường từ Bắc vào Nam hay ngược lại.
Biển Khe Hai hay còn gọi là biển Thiên Đàng, thuộc xã Bình Thạnh, huyện Bình Sơn, cách TP Quảng Ngãi 35 km về phía bắc, tiếp giáp với biển Rạng (Quảng Nam). Bãi biển Khe Hai có bãi cát trắng mịn, rặng phi lao ngút ngàn bên bờ biển xanh. Phía tây có dãy Bàn Than chạy dài từ bờ rồi lấn ra biển tạo thành một vòng cung. Phía đông sát bờ biển có ốc đảo Hòn Ông, Hòn Trà. Với hai địa danh này, du khách có thể lên thuyền đến Hòn Trà, Hòn Ông khám phá những hang động kỳ thú, hoặc men theo bãi đá ngầm bắt ốc đụn, câu cá, vui chơi thoải mái suốt ngày không chán.
Đi về phía nam dọc xã Bình Trị, Bình Châu có vịnh Nho Na xinh đẹp và một vùng biển còn hoang sơ với tên gọi Thanh Thủy, Lệ Thủy, An Cường, mũi Ba Làng An và vịnh Mỹ Hàn với làn nước xanh biếc, sóng nhẹ êm và rất nhiều bãi cát vàng óng ánh, đây là những bãi biển du khách đến tắm biển tuyệt vời của huyện Bình Sơn.Dulichgo
Ngoài những bãi biển tuyệt đẹp ven bờ, du khách có thể đi tàu cao tốc từ cảng Sa Kỳ đến thăm đảo Lý Sơn - một huyện đảo đang “hot” nhất hiện nay. Đến với Lý Sơn, ngoài việc đi tắm biển tại các bãi biển phía đông đảo (xã An Hải) hoặc đi tàu ra đảo Bé (xã An Bình) cách đảo lớn khoảng 3 hải lý, du khách còn được đắm mình trong những thắng cảnh đẹp nguyên sơ, bãi biển trong xanh khó có nơi nào sánh được, nhất là mùa hè du khách xuống tắm nhìn những đàn cá bơi trong làn nước xanh, những rặng san hô tuyệt đẹp.
Du khách còn đi tham quan các danh lam thắng cảnh như chùa Hang 300 tuổi, chùa Đục nằm dưới chân miệng núi lửa, tượng Phật bà cao 27 m nhìn ra đảo Bé, và cả những kiến trúc cổ độc đáo ở đền thờ Lăng Chánh, đình làng An Hải, đình làng An Vĩnh - với hàng trăm năm nay người dân Lý Sơn hàng năm vẫn tổ chức Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa; đến “mục sở thị” cột cờ Tổ quốc trên đỉnh núi Thới Lới sẽ nhìn tổng quát cả đảo Lý Sơn với các làng quê và các cánh đồng trồng hành, tỏi của “Vương quốc tỏi”; thăm hàng chục ngôi nhà cổ; thăm tượng đài và nhà trưng bày Hải đội Hoàng Sa Bắc hải ngay tại Trung tâm huyện…
Lễ hội điện Trường Bà ở Trà Bông
Di tích điện Trường Bà (huyện Trà Bông, Quảng Ngãi) nằm cách thành phố Quảng Ngãi 52 km về phía tây - bắc, gắn liền với quá trình tụ cư lập nghiệp của người Việt trong buổi đầu đi mở đất ở phía nam. Năm 1993, di tích này được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh, đến đầu tháng 5/2014, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quyết định xếp hạng là Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.
Hàng năm vào ngày 15 - 17/4 âm lịch, huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi tổ chức lễ hội điện Trường Bà. Đây là lễ thức tích hợp văn hóa từ nhiều nguồn văn hóa Việt, Chămpa, Hoa, Cor và các dân tộc thiểu số khác, trong đó văn hóa Việt là cốt lõi. Lễ hội thể hiện ý nghĩa nhân văn sâu sắc tạo sự đoàn kết dân tộc, có giá trị nâng cao nhận thức về giáo dục, đạo đức và thẩm mỹ đối với các tầng lớp nhân dân ở nhiều vùng miền đất nước.
Dulichgo
Lễ hội diễn ra với nhiều hoạt động đặc sắc, thể hiện lòng thờ kính, biết ơn đối với Thánh mẫu Thiên Y-A-Na và các vị thần khác được nhân dân địa phương thờ phụng từ hàng trăm năm nay. Các hoạt động chính của lễ hội điện Trường Bà được tổ chức vào đúng ngày 16/4 âm lịch. Đây được gọi là lễ Lệ xuân Trường Bà - một trong hai lễ hội được tổ chức tại điện Trường Bà hàng năm. Lễ hội được tổ chức thành nhiều phần khác nhau chủ yếu gồm: Lễ Mộc Dục, lễ tế ngoại đàn, lễ hội hiến trâu, cồng chiêng, múa Cadháu (cà đáo), lễ chánh tế, lễ hội Hoa đăng, và phần hội với nhiều hoạt động dân gian mang tính đặc trưng riêng như: Biểu diễn võ thuật, cồng chiêng các dân tộc; diễn tuồng, hát bộ, bài chòi, thi đấu cờ người, múa lân, thi đấu bóng chuyền, hát dân ca địa phương, đi cà kheo, kéo co; biểu diễn hát bá trạo, tuồng…
Trong các hoạt động lễ hội tại điện Trường Bà còn thể hiện sự giao thoa văn hóa đậm nét giữa các dân tộc anh em nhất là giữa đồng bào Cor và Kinh. Nếu như lễ tế ngoại đàn, chánh tế thể hiện văn hóa của người Việt, thì lễ hiến trâu, múa cồng chiêng… mang nét đặc trưng của đồng bào Cor. Không chỉ vậy, phần nghi thức được thực thi trong lễ hội và các vật phẩm cống lễ cũng mang âm hưởng văn hóa của một số dân tộc anh em khác trong vùng...
Bốn đặc sản xứ Quảng
Tỉnh Quảng Ngãi có 4 đặc sản của tỉnh được xác lập Kỷ lục Việt Nam, gồm cá bống sông Trà, don, kẹo gương và quế Trà Bồng. Đồng thời, cá bống sông Trà và món don cũng được lọt vào tốp 50 món ăn đặc sản nổi tiếng Việt Nam; kẹo gương là một trong 10 đặc sản kẹo nổi tiếng Việt Nam và quế Trà Bồng có mặt trong tốp 10 đặc sản thiên nhiên nổi tiếng Việt Nam.
Cá bống sông Trà ngon nhất vào mùa hè, ngư dân thường bắt cá bống bằng ống trống (ống tre dài khoảng 1 m, trống hai đầu, dùng một cọc nhọn cắm xuống nước). Muốn kho cá thật ngon thì con cá phải còn sống và sử dụng những đặc sản đúng hương vị xứ Quảng. Sau khi kho, cá có vị cay cay mặn mặn của gia vị, thơm dai của thịt cá.
Dulichgo
Quế Trà Bồng có lượng tinh dầu cao và mùi hương đặc biệt. Các tài liệu khoa học đã chứng minh giá trị y học rất cao của quế Trà Bồng khi sử dụng làm gia vị, hương liệu hoặc chiết xuất để lấy tinh dầu. Đặc biệt, có thể sử dụng vỏ quế, gỗ quế và lá quế làm nên các sản phẩm độc đáo, được thị trường ưa chuộng.
Đặc sản kẹo gương lại trong như pha lê, đẹp như bức tranh tĩnh vật với màu vàng ươm của đậu phụng, trắng vàng của mè và mong manh như tấm gương dễ vỡ.
Còn don là một trong những món ăn rất độc đáo của người Quảng Ngãi, nhẹ, mát, bổ, rẻ tiền nhưng rất hấp dẫn. Ruột don ít nhưng nước don thơm ngon, vừa ngọt vừa thanh. Những món ăn ngon được chế biến từ don như canh don, cháo don, gỏi don.
Theo Nguyễn Đăng Lâm (Báo Tin Tức)
Du lịch, GO!
Biển Quảng Ngãi - Những nàng tiên bị bỏ quên
Thứ Hai, 30 tháng 11, 2015
Hòn đảo du lịch nào sẽ gây sốt năm 2016?
(NLĐ) - Mỗi vùng biển đảo đều mang đến những nét đặc trưng bí ẩn riêng, thôi thúc trí tò mò và tính ham thích khám phá khi bạn đặt chân đến đây. Nam Du, Phú Quý, Thổ Chu, Điệp Sơn được dự đoán sẽ là 4 hòn đảo được những bạn trẻ đam mê du lịch tìm đến vào năm 2016.
Đảo Phú Quý
Phú Quý là một hòn đảo nhỏ nằm cách thành phố Phan Thiết khoảng 120km, ấn tượng đầu tiên của bạn khi đặt chân đến đây là khung cảnh rất hoang sơ và gần như chưa có sự đụng chạm của các dịch vụ du lịch chuyên nghiệp. Có lẽ vì thế mà Phú Quý đang dần trở thành cái tên hot hơn bao giờ hết trong đầu của các bạn trẻ yêu du lịch.
Không chỉ hấp dẫn du khách bởi nhiều nhiều bãi tắm như vịnh Triều Dương, bãi Doi Dừa, bãi Nhỏ – Gành Hang,.. mà Phú Quý còn có nhiều danh thắng cho bạn khám phá.
Là một hòn đảo nhỏ chỉ với diện tích 16 km² nhưng trên đảo có nhiều ngôi chùa, miếu, đền có kiến trúc từ lâu đời như: chùa Linh Quang, chùa Vạn An Thạnh ở xã Tam Thanh; dinh mộ Thầy Nại, miếu bà chúa Bàng Tranh ở xã Long Hải; ngôi chùa cổ Linh Sơn trên núi Cao Cát…
Đặc sản biển tại Phú Quý rất tươi, rất ngon nhưng giá cả lại phù hợp và phải chăng. Sáng sớm bạn có thể ra các chợ cá hay bắt canô ghé đến các hòn để xem tàu đánh cá cập bờ, tìm hiểu về những con thuyền làm nghề câu cá mập, hoặc nghề lặn bắt tôm hùm truyền thống, sau đó quay trở về các xóm chài để ăn sáng. Đương lúc hóng chuyện với ngư dân, bạn cũng có thể tranh thủ mua lấy mớ hải sản tươi vừa lên bờ, nhờ người dân chế biến theo ý thích, vừa rẻ, lại thơm ngon không chê vào đâu được.
Đảo Nam Du
Nam Du là một quần đảo với 21 hòn đảo lớn nhỏ, nằm ở phía Tây Nam của bản đồ hình chữ S thân thương. Là một quần đảo nhỏ thuộc hai xã An Sơn và Nam Du, thuộc huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang, cách bờ biển Rạch Giá 65 hải lý, được mệnh danh là một Phú Quốc khác của Kiên Giang.
Dulichgo
Nam Du có rất nhiều địa điểm đẹp khiến du khách thích thú, theo đó những ngày đầu, bạn nên dành thời gian để khám phá các điểm như đồi Ma Thiên Lãnh, Hòn Nồm, Hòn Hai Bờ Đập, ngọn hải đăng…
Sau khi đã tham quan một vòng, bạn hãy tới Hòn Mấu, Hòn Dầu và bãi Cây Mến cắm trại để tận hưởng không khí trong lành của biển cả.
Ẩm thực ở Nam Du chủ yếu là hải sản tươi nên bạn có thể thỏa sức lựa chọn các món như cá canh xương nướng bẹ chuối, sò điệp nướng mỡ hành, mực trứng hấp gừng, canh chua cá bớp, khô cá… Quần đảo này chỉ có điện trong khoảng 8h30 – 13h và 15h30 – 23h hàng ngày. Do vậy bạn nên lưu ý để sạc điện thoại, máy ảnh và các thiết bị điện tử khác. Buổi tối ở đây không có nhiều hoạt động giải trí nên bạn hãy chuẩn bị các kế hoạch vui chơi để tránh cảm giác buồn tẻ.
Đảo Điệp Sơn
Là một trong những xã đảo còn khó khăn nhất trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa, thôn đảo Điệp Sơn với 83 hộ dân hiện vẫn đang sống trong điều kiện thiếu điện và nước sạch cho sinh hoạt.
Dulichgo
Điệp Sơn gồm 3 hòn đảo nhỏ, nằm chơi vơi trong vùng biển thuộc vịnh Vân Phong. Hành trình khám phá hòn đảo bắt đầu từ thị trấn Vạn Giã, sau khoảng một giờ đồng hồ lênh đênh trên biển, quần đảo Điệp Sơn xinh đẹp dần xuất hiện, cắt hình rõ nét trên đường chân trời.
Điều đặc biệt ở đảo Điệp Sơn chính là hành trình chinh phục con đường dưới biển vô cùng độc đáo và thú vị dài gần 700 mét, nối liền hòn đảo giữa với đảo Điệp Sơn lớn. Con đường uốn lượn, rộng khoảng 1 mét và nằm sâu dưới mặt nước biển trong xanh chưa đến nửa mét.
Đi bộ trên con đường này đem lại cảm giác vô cùng thích thú, xen lẫn hồi hộp và một chút sợ hãi khi bạn phải bước giữa đại dương bao la. Bạn có thể thỏa thích ngắm nhìn những đàn cá nhỏ tung tăng bơi lội hai bên, chốc chốc lại thấy những đàn cá nhảy tung lên khỏi mặt nước, hay giơ tay vẫy chào con thuyền đang chạy lướt qua.
Đảo Thổ Chu
Dulichgo
Mang nét đẹp của bãi biển hoang sơ, hàng dừa êm ả soi bóng và nụ cười thân thiện của ngư dân, nhưng đảo Thổ Chu chỉ tồn tại trong thuật ngữ du lịch bụi. Quần đảo Thổ Chu thuộc huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang gồm nhiều đảo lớn nhỏ, chìm nổi. Trong đó nổi bật với 8 đảo lớn với hình dáng, diện tích khác nhau là đảo Hòn Cao Cát, Hòn Mô, Hòn Cao, Hòn Từ, Hòn Nước, Hòn Keo Ngựa, Hòn Nhạn và Thổ Châu, người dân địa phương gọi là Thổ Chu. Quần đảo này nằm ở địa đầu Tây Nam của nước ta, cách mũi Cà Mau khoảng 160 km về phía Tây Bắc và cách thị xã Rạch Giá (Kiên Giang) khoảng 220 km.
Đến đảo Thổ Chu, bạn có thể tắm biển thỏa thích, lặn ngắm 99 loại san hô đã được xác định tại đây, tắm nắng, quan sát cuộc sống lúc nhộn nhịp khi tàu về hay nhóm bếp lửa ngay bờ biển, vừa đón những ngọn gió mặn vị biển, vừa thưởng thức hải sản tươi ngon, vừa nghe những câu chuyện bi hùng của đảo qua lời kể của những ngư dân lớn tuổi. Du khách cũng sẽ thấy ấm lòng với những nụ cười thân thiện của người dân, cái vòng tay lễ phép của các em học sinh vô tình bắt gặp trên đường, thấy thân quen và bình yên vô cùng.
Bạn cũng đừng quên tham quan ngọn hải đăng của đảo. Tuy không cao, tầm chiếu sáng chỉ dao động trong khoảng 12 hải lý nhưng ngọn hải đăng này tọa lạc tại một trong những nơi cao nhất của đảo (167m) nên đứng tại đó, bạn có thể quan sát gần như toàn bộ đảo Thổ Chu với những ngọn núi, mái nhà ẩn hiện dưới rặng dừa, với bãi biển hiền hoà và những chiếc thuyền thúng nối đuôi dài tít tắp. Hay nếu hướng nhìn ra biển, những chấm nhỏ li ti sẽ hiện nguyên hình là những chiếc tàu lớn đang lênh đênh giữa trời biển.
Theo T.H (Người Lao Động)
Du lịch, GO!
Đảo Phú Quý
Phú Quý là một hòn đảo nhỏ nằm cách thành phố Phan Thiết khoảng 120km, ấn tượng đầu tiên của bạn khi đặt chân đến đây là khung cảnh rất hoang sơ và gần như chưa có sự đụng chạm của các dịch vụ du lịch chuyên nghiệp. Có lẽ vì thế mà Phú Quý đang dần trở thành cái tên hot hơn bao giờ hết trong đầu của các bạn trẻ yêu du lịch.
Không chỉ hấp dẫn du khách bởi nhiều nhiều bãi tắm như vịnh Triều Dương, bãi Doi Dừa, bãi Nhỏ – Gành Hang,.. mà Phú Quý còn có nhiều danh thắng cho bạn khám phá.
Là một hòn đảo nhỏ chỉ với diện tích 16 km² nhưng trên đảo có nhiều ngôi chùa, miếu, đền có kiến trúc từ lâu đời như: chùa Linh Quang, chùa Vạn An Thạnh ở xã Tam Thanh; dinh mộ Thầy Nại, miếu bà chúa Bàng Tranh ở xã Long Hải; ngôi chùa cổ Linh Sơn trên núi Cao Cát…Đặc sản biển tại Phú Quý rất tươi, rất ngon nhưng giá cả lại phù hợp và phải chăng. Sáng sớm bạn có thể ra các chợ cá hay bắt canô ghé đến các hòn để xem tàu đánh cá cập bờ, tìm hiểu về những con thuyền làm nghề câu cá mập, hoặc nghề lặn bắt tôm hùm truyền thống, sau đó quay trở về các xóm chài để ăn sáng. Đương lúc hóng chuyện với ngư dân, bạn cũng có thể tranh thủ mua lấy mớ hải sản tươi vừa lên bờ, nhờ người dân chế biến theo ý thích, vừa rẻ, lại thơm ngon không chê vào đâu được.
Đảo Nam Du
Nam Du là một quần đảo với 21 hòn đảo lớn nhỏ, nằm ở phía Tây Nam của bản đồ hình chữ S thân thương. Là một quần đảo nhỏ thuộc hai xã An Sơn và Nam Du, thuộc huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang, cách bờ biển Rạch Giá 65 hải lý, được mệnh danh là một Phú Quốc khác của Kiên Giang.
Dulichgo
Nam Du có rất nhiều địa điểm đẹp khiến du khách thích thú, theo đó những ngày đầu, bạn nên dành thời gian để khám phá các điểm như đồi Ma Thiên Lãnh, Hòn Nồm, Hòn Hai Bờ Đập, ngọn hải đăng…
Sau khi đã tham quan một vòng, bạn hãy tới Hòn Mấu, Hòn Dầu và bãi Cây Mến cắm trại để tận hưởng không khí trong lành của biển cả.
Ẩm thực ở Nam Du chủ yếu là hải sản tươi nên bạn có thể thỏa sức lựa chọn các món như cá canh xương nướng bẹ chuối, sò điệp nướng mỡ hành, mực trứng hấp gừng, canh chua cá bớp, khô cá… Quần đảo này chỉ có điện trong khoảng 8h30 – 13h và 15h30 – 23h hàng ngày. Do vậy bạn nên lưu ý để sạc điện thoại, máy ảnh và các thiết bị điện tử khác. Buổi tối ở đây không có nhiều hoạt động giải trí nên bạn hãy chuẩn bị các kế hoạch vui chơi để tránh cảm giác buồn tẻ.
Đảo Điệp Sơn
Là một trong những xã đảo còn khó khăn nhất trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa, thôn đảo Điệp Sơn với 83 hộ dân hiện vẫn đang sống trong điều kiện thiếu điện và nước sạch cho sinh hoạt.
Dulichgo
Điệp Sơn gồm 3 hòn đảo nhỏ, nằm chơi vơi trong vùng biển thuộc vịnh Vân Phong. Hành trình khám phá hòn đảo bắt đầu từ thị trấn Vạn Giã, sau khoảng một giờ đồng hồ lênh đênh trên biển, quần đảo Điệp Sơn xinh đẹp dần xuất hiện, cắt hình rõ nét trên đường chân trời.
Điều đặc biệt ở đảo Điệp Sơn chính là hành trình chinh phục con đường dưới biển vô cùng độc đáo và thú vị dài gần 700 mét, nối liền hòn đảo giữa với đảo Điệp Sơn lớn. Con đường uốn lượn, rộng khoảng 1 mét và nằm sâu dưới mặt nước biển trong xanh chưa đến nửa mét.
Đi bộ trên con đường này đem lại cảm giác vô cùng thích thú, xen lẫn hồi hộp và một chút sợ hãi khi bạn phải bước giữa đại dương bao la. Bạn có thể thỏa thích ngắm nhìn những đàn cá nhỏ tung tăng bơi lội hai bên, chốc chốc lại thấy những đàn cá nhảy tung lên khỏi mặt nước, hay giơ tay vẫy chào con thuyền đang chạy lướt qua.
Đảo Thổ Chu
Dulichgo
Mang nét đẹp của bãi biển hoang sơ, hàng dừa êm ả soi bóng và nụ cười thân thiện của ngư dân, nhưng đảo Thổ Chu chỉ tồn tại trong thuật ngữ du lịch bụi. Quần đảo Thổ Chu thuộc huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang gồm nhiều đảo lớn nhỏ, chìm nổi. Trong đó nổi bật với 8 đảo lớn với hình dáng, diện tích khác nhau là đảo Hòn Cao Cát, Hòn Mô, Hòn Cao, Hòn Từ, Hòn Nước, Hòn Keo Ngựa, Hòn Nhạn và Thổ Châu, người dân địa phương gọi là Thổ Chu. Quần đảo này nằm ở địa đầu Tây Nam của nước ta, cách mũi Cà Mau khoảng 160 km về phía Tây Bắc và cách thị xã Rạch Giá (Kiên Giang) khoảng 220 km.
Đến đảo Thổ Chu, bạn có thể tắm biển thỏa thích, lặn ngắm 99 loại san hô đã được xác định tại đây, tắm nắng, quan sát cuộc sống lúc nhộn nhịp khi tàu về hay nhóm bếp lửa ngay bờ biển, vừa đón những ngọn gió mặn vị biển, vừa thưởng thức hải sản tươi ngon, vừa nghe những câu chuyện bi hùng của đảo qua lời kể của những ngư dân lớn tuổi. Du khách cũng sẽ thấy ấm lòng với những nụ cười thân thiện của người dân, cái vòng tay lễ phép của các em học sinh vô tình bắt gặp trên đường, thấy thân quen và bình yên vô cùng.
Bạn cũng đừng quên tham quan ngọn hải đăng của đảo. Tuy không cao, tầm chiếu sáng chỉ dao động trong khoảng 12 hải lý nhưng ngọn hải đăng này tọa lạc tại một trong những nơi cao nhất của đảo (167m) nên đứng tại đó, bạn có thể quan sát gần như toàn bộ đảo Thổ Chu với những ngọn núi, mái nhà ẩn hiện dưới rặng dừa, với bãi biển hiền hoà và những chiếc thuyền thúng nối đuôi dài tít tắp. Hay nếu hướng nhìn ra biển, những chấm nhỏ li ti sẽ hiện nguyên hình là những chiếc tàu lớn đang lênh đênh giữa trời biển.
Theo T.H (Người Lao Động)
Du lịch, GO!
Thứ Bảy, 28 tháng 11, 2015
Chuyện chưa từng kể về đảo Côn Lôn
(LĐO) - Nằm ở vị trí tiền tiêu phía đông nam tổ quốc, đảo ngọc Côn Lôn (Côn Đảo) được nhắc đến như một điểm dừng chân của nhiều thế hệ các nhà hàng hải và lọt vào “tầm ngắm” của các thế lực bành trướng phương Tây nhiều năm về trước.
Đảo của rắn và “quái vật”
Là người nhiều năm nghiên cứu về lịch sử phát triển của đảo Côn Lôn, J.C Demariaux - một học giả thuộc Hiệp hội Nghiên cứu Đông Dương đã có nhiều khám phá thú vị. Kết quả nghiên cứu của ông đã được công bố bằng tiếng Pháp trên Tuần báo Đông Dương (Indochine Hebdomadaire Illustré) số 196, ra ngày 1.6.1944 và số 197, ra ngày 8.6.1944, hiện đang được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia I. Đây thực sự là những tài liệu tham khảo có giá trị, xin được giới thiệu sơ lược.
(…) Nằm cách mũi Saint - Jacques (nay là Vũng Tàu) chừng 97 dặm và cửa sông Mê Kông chừng 47 dặm là quần đảo Poulo –Condore, người bản xứ gọi là Côn Lôn hay Côn Nôn (nghĩa là Đảo Rắn, do có rất nhiều loài bò sát sinh sống trên các đỉnh đồi).
Dường như người Tây Ban Nha là những người Âu đầu tiên đặt chân lên quần đảo hồi đầu thế kỷ XVI, bởi trong thời gian chiếm đóng của người Pháp, người ta tìm thấy những đồng tiền in hình Charles - Quint niên hiệu 1521.
Dulichgo
Người Anh đặt chân lên vùng đất này năm 1702, điều đó được ghi lại trong báo cáo của nhân viên Hãng Pháp Ấn - Veret. Ông này chính là người khuyên người Pháp nên chiếm đóng Côn Lôn, bởi đây là “điểm trung chuyển quan trọng đối với các tàu của Trung Hoa, Bắc Kỳ, Ma Cao, Manila, Java”.
Hãng Đông Ấn của Anh (Honorable East Indian Company) đã đi trước người Pháp khi quyết định cho xây dựng một thương điếm ở đảo Côn Lôn lớn, chính Chủ tịch Allen Catchpole đứng đầu thương điếm Chu Sơn, Trung Hoa được giao điều hành thi công công trình này. Hiện người ta vẫn còn có thể nhận ra vết tích sót lại của khu thương điếm là những đống đá, đống đổ nát của lò nung và vài mảnh sứ vỡ vùi dưới các bụi cây (các tài liệu lưu trữ liên quan đến số phận của khu thương điếm này có thể tìm thấy ở Calcutta).
Dưới mỏm đá vươn ra Biển Đông, một vịnh nhỏ đầy cát lọt thỏm giữa khu rừng rậm tạo nên khoảng trống lấp lánh. Đó có thể là bãi cát mà người Anh đã đổ bộ và bắt gặp những con rùa biển khổng lồ. “Quái vật có vảy hoe vàng bò cùng hàng ngàn con nhỏ khác mới nở ra, đó là động vật có nhau thai dính vào bụng” - Allen Catchpole miêu tả.
Chúng tôi trung thực và không gây hại cho bất kỳ ai
Côn Lôn đặc biệt thu hút sự quan tâm của người Anh, họ cố gắng thiết lập quan hệ với người dân nơi đây. Thuyền trưởng Gore đã đặt chân lên quần đảo này từ ngày 20 - 28.1.1780 trong lịch trình vòng quanh thế giới với hai chiếc tàu Résolution và Découverte.
Vào thời điểm đó, các đảo Côn Lôn vẫn là đất của triều đình Huế với chừng 30 nóc nhà nằm rải rác. Thuyền trưởng Gore hỏi người dân làm thế nào có thể mua thức ăn dự trữ. Một viên quan theo đạo Cơ đốc tên gọi Luc cho hay, ông ta sẽ bán trâu cho thuyền trưởng, mỗi con chừng 4-5 đồng bạc. Lúc khởi hành, thuyền trưởng Gore tặng viên quan một cái kính và nhờ ông ta chuyển một bức thư tới Giám mục tòa Adran Bá Đa Lộc.
Huân tước Macartney - Đại sứ đặc biệt của Vua Anh Georges Đệ Tam bên cạnh triều đình Trung Hoa - cũng từng dừng chân trên các đảo Côn Lôn trong hai ngày 17 - 18.5.1793. Ông ta muốn xem xem liệu người Pháp đã đổ bộ lên các đảo hay chưa. Một số người trên hai tàu Lion và Indoustan rời thuyền xuống mua thức ăn dự trữ tại một ngôi làng nhỏ, người dân hứa sẽ giúp họ có đủ thức ăn ngay ngày hôm sau.
Khi trở lại lấy thức ăn dự trữ như đã hẹn, họ thấy cả ngôi làng trống hoác, cửa nhà mở toang, không vật dụng nào bị mang đi, gia cầm thả rông tự tìm thức ăn quanh nhà. Trong một gian nhà, thủy thủ Anh tìm thấy một mẩu giấy viết bằng tiếng Hán: “Chúng tôi không đủ đông, rất nghèo khổ nhưng trung thực và không có khả năng gây hại cho bất kỳ ai. Chúng tôi từng rất sợ hãi khi thấy những con tàu to lớn cùng những người đàn ông lực lưỡng khi chúng tôi không đủ gia súc và các thức ăn dự trữ khác cung cấp theo yêu cầu của họ. Chúng tôi có rất ít đồ ăn cung cấp cho các ngài và chúng tôi không thể làm điều mà các ngài trông mong ở chúng tôi. Nỗi sợ hãi bị ngược đãi và khát khao được sống đã buộc chúng tôi phải chạy trốn… Chúng tôi để lại trong làng mọi thứ chúng tôi có và các ngài có thể lấy đi, nhưng xin đừng đốt các ngôi nhà của chúng tôi”.
Các tác giả của bức thư trên chắc đã từng bị những người nước ngoài đối xử rất thậm tệ. Đoàn thủy thủ người Anh không lấy bất kỳ thứ gì và để lại trong ngôi nhà món quà tặng kèm theo một bức thư tiếng Hán: “Những chiếc tàu ghé thăm hòn đảo và những người đã đặt chân lên đây là người Anh. Chúng tôi đến chỉ để mua thức ăn tươi và không có ý xấu…”.
Dulichgo
Dường như người Anh không có may mắn với vùng đất này, bởi vào lúc tàu của họ bắt đầu nhổ neo rời đi đến Trung Hoa thì tời trên tàu Indoustan bị đứt. Chiếc neo đang kéo lên nửa chừng rơi xuống với tốc lực cực lớn, chiếc tời quay cực mạnh cuốn phăng các thanh chắn được đẽo vuông chừng 6 tấc và dài 16 piê (mỗi piê chừng 30cm) khỏi lỗ đóng, văng tứ tung khiến nhiều người bị thương nằm ngổn ngang trên cầu tàu. Vụ tai nạn khiến viên thuyền trưởng hoảng sợ, vội vã ra lệnh rời đảo, bỏ chiếc neo nằm lại biển sâu.
Cửa ngõ eo biển Malacca
Lịch sử “bị chiếm đóng” của các đảo Côn Lôn ít được biết đến. Sau vụ thảm sát do lính Macassar gây ra năm 1705, người Pháp mới tính đến việc chiếm các đảo Côn Lôn. Theo Tạp chí Địa Lý xuất bản năm 1889-1890, Alexis Faure kể lại: Năm 1721, một nhân viên Hãng Pháp Ấn có tên là Renault được giao tiến hành điều tra dân số, khí hậu cũng như hoạt động sản xuất trên các đảo. Trong báo cáo gửi về, Renault nói về sự tồn tại của các sinh vật lạ, sóc và thằn lằn bay. Vào thời đó, Côn Lôn lớn được đặt tên là đảo Orléans để tôn vinh Công tước vùng Orléans của Pháp, tuy nhiên không có bất kỳ công trình nào được dựng lên ở đây.
Năm 1752, Dupleix thu thập thông tin từ các nhà truyền giáo và tiếp quản kế hoạch chiếm đóng Côn Lôn. Bất hạnh thay, ông này bị triệu hồi về Pháp và cuộc chiến Anh – Pháp kéo dài 7 năm đã khiến kế hoạch chiếm đóng Côn Lôn không được quan tâm.
Theo ký giả Charles Maybon, còn có một kế hoạch khác do thương gia Protais-Leroux, người từng có 8-9 năm kinh nghiệm làm việc ở Ấn Độ gửi cho De Machault - Chánh Thanh tra Bộ Tài chính Pháp - ngày 15.5.1755. Trong thư, Leroux trình bày các ưu điểm nếu cho xây dựng một thương điếm ở Côn Lôn, “quần đảo nằm ở cửa ngõ eo biển Malacca” có giá trị chiến lược lớn: “Hòn đảo là nơi trú ẩn cho các tàu Âu đến Trung Hoa; chúng ta có thể trú đông, sửa chữa và đóng vá mọi loại tàu trong cảng phía bắc bằng gỗ xây dựng trong vùng nếu cần. Cảng phía nam sẽ đem lại lợi ích rất lớn”.
Dulichgo
Leroux đề nghị cho xây thương điếm càng nhanh càng tốt. Tuy nhiên, tình hình tài chính của Hãng Pháp Ấn không cho phép nghĩ đến kế hoạch to tát ấy. Sau năm 1757, hãng tàu thủy Pháp ngậm ngùi nhìn hãng tàu thủy Anh qua mặt thống trị các biển toàn khu vực Nam Á, trở thành một sức mạnh xâm lược lẫn quân sự.
Kho báu
Trong lịch sử Phái bộ Nam Kỳ, Cha Launay viết lại nhật ký của Cha Levasseur bàn về xây dựng một thương điếm năm 1768 ở Côn Lôn. Có thể nói, tất cả các dự án từ năm 1705 của người Pháp mới chỉ dừng lại ở ý tưởng. Năm 1773, cuộc nổi dậy của Tây Sơn nổ ra, giám mục Bá Đa Lộc cùng Nguyễn Ánh chạy trốn trên các đảo dọc bờ biển Nam Kỳ.
Phần lớn dân làng An Hải trên đảo Côn Lôn là hậu duệ của nhà Gia Long, họ còn cất giữ rất nhiều sách cổ viết bằng chữ Hán. Người ta cũng nói về những bộ áo giáp và những khẩu súng mút-kê cũ (sản xuất ở thế kỷ XVI-XVII) được tìm thấy trong một hang động dưới thời chúa đảo Lambert. Khắp nơi trên quần đảo, người ta rỉ tai nhau về những kho báu chôn giấu chưa được tìm thấy.
Ngày 25.11.1896, trong khu vực nhà tù số 1, tù khổ sai Dang Van Tam khi đào hào đã phát hiện 2 chum chứa đầy đồng tiền bạc và vòng vàng. Đó có thể là của cải dự trữ được cất giấu của Nguyễn Ánh. Vào ngày chạy trốn khỏi trùng vây thuyền chiến của quân Tây Sơn, Nguyễn Ánh đã bỏ lại tất cả số vàng bạc đó, tháo thân sang Xiêm.
Thống đốc Nam Kỳ Ducos đã ra lệnh bán rồi chia số tiền thu được thành hai phần bằng nhau: Một nửa nộp cho chính phủ thuộc địa, một nửa trao cho tù khổ sai Dang Van Tam. Ngày 14.1.1897, Thống đốc viết: “Khi một kho báu tình cờ được phát hiện, chiểu theo Điều 716 Luật Dân sự, người phát hiện có quyền hưởng một nửa kho báu, phần còn lại thuộc về người sở hữu đất”.
Người nổi dậy bị treo cổ và nguồn gốc ra đời nhà tù khổ sai
Hiệp ước Versailles ngày 28.11.1787 giữa Vua Louis XV và Vua Gia Long do Giám mục tòa Adran Bá Đa Lộc soạn thảo, theo đó Vua Gia Long đồng ý nhượng lại cho Pháp quyền sở hữu các đảo Côn Lôn. Dù có hiệp ước trên nhưng thực tế, không có bất kỳ đơn vị lính đồn trú Pháp nào được triển khai trên quần đảo. Trong chuyến ghé thăm của Huân tước Macartney ngày 17 và 18.5.1793, ông ta không hề gặp một lính Pháp nào ở đây.
Pháp thực sự sử dụng quyền sở hữu quần đảo này vào ngày 28.11.1861, khi ra lệnh tàu hộ tống Norzagaray cập đảo theo lệnh của Đô đốc Bonard - Thống đốc Nam Kỳ đầu tiên, người tuyên bố “muốn hoàn thành sớm nhất có thể những mục tiêu của Hoàng đế Napoléon Đệ Tam”. Theo tài liệu ở Nam Kỳ, tôi (tác giả J.C Demariaux) đã tìm thấy và được đọc biên bản chiếm đảo.
Dulichgo
Đó là một tờ giấy vàng bị rách ở giữa vì mối đục: “Hôm nay, thứ năm là ngày 28.11.1861, vào lúc 10h sáng. Tôi tên là Lespès Sébastien - Nicolas Joachim, đại úy hải quân, chỉ huy tàu Hải quân Hoàng gia Norzagaray, hành động theo mệnh lệnh của chính phủ, tuyên bố chiếm giữ nhóm các đảo Poulo - Condore (Côn Lôn), nhân danh Hoàng đế Napoléon Đệ Tam - Hoàng đế của người dân Pháp.
Theo đúng lệnh, tàu Pháp đổ bộ lên đảo Côn Lôn lớn kể từ ngày này. Biên bản chiếm giữ được lập trước sự chứng kiến của các sĩ quan tàu Norzagaray. Biên bản lập trên đất liền, vịnh Tây Nam đảo Côn Lôn vào ngày, tháng, năm trên đây…”. Biên bản được trưng bày tại Hiệp hội Nghiên cứu Đông Dương, sau Nhà triển lãm Sài Gòn.
Khi Pháp đặt chân lên các hòn đảo Côn Lôn, 129 tù binh của triều đình Huế đang bị giam trong một đồn lũy. Ban ngày, số tù binh này được tự do trồng cấy chăn nuôi, nhưng khi đêm đến, tất cả bị cùm xích lại. Phần lớn tù binh đem theo vợ con, sống trong những túp lều lụp xụp quanh đồn, được che chắn bằng phên giậu.
Lính đồn trú ở đây gồm 80 người, dưới sự chỉ huy của Quan Chánh - viên quan của triều đình trực thuộc tỉnh Bình Long (nay là tỉnh Hà Tiên). Binh lính đóng quân 1 năm trên các đảo sau đó được thuyên chuyển vào đất liền. Họ không có súng mà chỉ được trang bị giáo mác.
Ngày 15.12.1861, đại úy Durand, chỉ huy tàu Monge thay thế tàu Norzagaray đã tiếp ông Chánh - người bản xứ đứng đầu các đảo. Tình hữu hảo được thể hiện qua những thùng quýt, cam, mít, xoài, bưởi, ngô, khoai lang, thuốc lá, trầu được ông Chánh sai người mang đến biếu các quan lính Pháp. Nhưng quan hệ này không duy trì được lâu, các lính bản xứ xuất thân từ đảo (lính bàu) cùng với các tù nhân nổi dậy chống lại người Pháp.
Dulichgo
Họ bầu một người tên là Nguyệt làm trưởng nhóm, bí mật đóng một con tàu lớn, vạch kế hoạch tiêu diệt hết các thủy thủ Pháp rồi trốn vào đất liền. Một tù khổ sai do quá sợ đã bán tin cho người Pháp, vụ nổi dậy bị dập tắt và Nguyệt bị treo cổ.
Khi làm các công việc thủy lực Hải quân, đại úy hải quân Manen trên tàu Norzagazay nhận thấy các bản đồ của Anh ở thời đó đã mắc lỗi địa lý khá nghiêm trọng. Các đảo Côn Lôn được vẽ dịch hơn 4 dặm về phía đông và hơn 1 dặm về phía bắc so với thực tế. Lỗi này là nguyên nhân làm chệch hướng của các con tàu khi đi ra biển Đông, do không đủ gió nên thường mắc cạn trên các bãi biển Cao Miên và những bản đồ của Anh trở thành công cụ dẫn đường tồi, khiến các thuyền trưởng thiếu kinh nghiệm bị lạc hướng.
Người ta nói rằng nước Anh lên tiếng phản đối việc gửi tàu Norzagaray đến các đảo Côn Lôn vì cho rằng về lý thuyết, người Pháp không có bất cứ quyền gì đối với các đảo trên, Hiệp ước Versailles ký với Vua Gia Long đã lỗi thời và Chính phủ Pháp đã thay đổi sau cuộc Cách mạng Pháp.
Ý kiến trên nhanh chóng bị bác bỏ bởi năm sau, Hiệp ước Sài Gòn ngày 3.6.1862 giữa một bên là Hoàng đế Pháp và Hoàng hậu Tây Ban Nha, một bên là Vua Tự Đức, trong đó Vua Tự Đức đồng ý nhường quần đảo và ba tỉnh Biên Hòa, Gia Định và Định Tường (Mỹ Tho) cho Pháp. Từ năm 1862, đô đốc Bonard đã cho xây dựng ở đây một nhà tù khổ sai để giam giữ những người bị kết án từ 1-10 năm tù và đó là nguồn gốc ra đời nhà tù khổ sai sau này.
Tù nhân nữ và sòng bạc
Giám đốc đầu tiên của nhà tù khổ sai là đại úy hải quân F.Roussel - người đã đề nghị Đô đốc Bonard gửi các nữ tù nhân tới Côn Lôn. Ngày 18.3.1862, Roussel viết: “Sự ra đi của vợ các quân tù và tù nhân Cao Miên khiến Côn Lôn không có bóng dáng người phụ nữ. Tôi tin rằng việc đưa những nữ phạm nhân đến đây sẽ là một tài sản đối với vùng đất này, khiến người dân gắn bó với đất đai hơn…”.
Dulichgo
Đô đốc Bonard không nhượng bộ trước mong muốn của cấp dưới mà phải đợi đến thời người kế nhiệm ông ta - Đô đốc Lafont - việc này mới được thực hiện. Nhưng điều này lại khiến viên sĩ quan quản lý đảo không hài lòng. Ngày 29.10.1879, viên sĩ quan này đã gửi bức thư hài hước không ghi rõ ngày tháng tới Đô đốc Lafont: “Hai con gà trống chung sống hòa bình. Một con gà mái đến và chiến tranh nổ ra. Điều đó muốn nói lên rằng, khi số gà trống nhiều hơn số gà mái thì bình yên không còn tồn tại trong cái chuồng gà nữa. Để tránh lộn xộn, tôi buộc phải cách ly hoàn toàn tù nhân nam với tù nhân nữ. Tôi cho rằng các tù nhân nữ không quá xinh và trẻ nhưng Côn Lôn rất hiếm phụ nữ. Các cảnh sát và cai ngục người Âu đã chịu đựng quá nhiều thiệt thòi nên không thể lường trước hậu quả có thể xảy ra...”.
Dịch tả đã khiến cho nghĩa trang của Pháp ở Côn Lôn trở nên chật chội. Dịch bùng phát hồi tháng 4-5.1864 khiến một đội lính đồn trú của Pháp tử vong. Bầu không khí lo sợ bao trùm lên khắp nhà tù khi các lính hải quân và pháo binh chết như ngả rạ, bất chấp nỗ lực chăm sóc của bác sĩ phẫu thuật quân y Viaud.
Sau khi người Pháp chiếm đóng các đảo, quần đảo Côn Lôn được chuyển giao, trực thuộc quản lý của Phủ Thống đốc Nam Kỳ, dưới quyền của một quan cai trị hoặc một sĩ quan, với chức danh “Giám đốc nhà tù và các đảo” (Directeur du pénitencier et des les). Nhà tù giam giữ khoảng 1.500 - 2.000 tù nhân, hàng trăm người trong số đó sống ở nông thôn, trong các trang trại, được giao chăn nuôi và trồng trọt.
Số khác được sai đi đánh cá hoặc tới làm việc ở các lò vôi với nhiên liệu lấy từ dải san hô. Dải san hô ở Côn Lôn không bao giờ cạn kiệt. Năm 1863, trung úy hải quân Bigot hứa với Đô đốc De la Grandière sẽ cho hoạt động 6 lò vôi để cung cấp vật liệu cho Nam Kỳ nhờ nguồn dự trữ san hô dồi dào.
Các khu rừng rậm phủ kín những ngọn núi của đảo Côn Lôn, đỉnh núi cao nhất ở đây cao tới 596m so với mực nước biển. Người Pháp cho xây đường cáp vận chuyển gỗ xây dựng từ trên núi xuống. Các sĩ quan hải quân chiếm đóng đảo dưới thời các đô đốc đã thống kê có 36 loài khác nhau ở đây, tất cả các loại cây gỗ nhiệt đới đều có nhưng hiện tại một số đã biến mất do khai thác và không tái trồng rừng.
Dulichgo
Ở đảo Côn Lôn lớn, người ta chỉ còn thấy gỗ sao. Với các loại gỗ khác, người ta phải đến tìm ở đảo Bai Kinh, nơi ngọn hải đăng xây trên đỉnh núi cao 212m so với mực nước biển, chiếu sáng cho tuyến hàng hải Singapore.
Có một thời người ta đã tính đến chuyện phá bỏ nhà tù khổ sai Côn Lôn. Ngày 28.9.1899, Hội đồng Thuộc địa Nam Kỳ ra quyết định phá bỏ nhà tù khổ sai Côn Lôn khi xảy ra dịch bệnh tê phù. Người ta dự kiến chuyển số tù nhân giam giữ tại đây tới 20-30 nhà lao trong đất liền và biến nơi đây thành các công trường lao động. Nhưng đến phút chót, một báo cáo viên có tên là Monceaux đã đưa ra kết luận.
“Tôi tán đồng quan điểm với các quan cai trị cho rằng những kẻ bị kết án phạm tội cần phải chuyển đến các nhà giam ở bên ngoài. Trong những xã hội có tổ chức, người ta luôn tiến hành mọi biện pháp cần thiết để loại tội phạm ra khỏi các trung tâm dân cư” - ông ta viết.
Người ta cũng đưa ra ý tưởng xây một sòng bạc ở đảo Côn Lôn lớn để cạnh tranh với Ma Cao, biến hòn đảo thành điểm hẹn của những người giàu có nhàn rỗi quanh vùng Viễn Đông. Năm 1936, kế hoạch bãi bỏ nhà tù khổ sai Côn Lôn được Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Marius Moutet và Bộ trưởng Bộ Tư pháp Marc Rucart tái khởi động nhưng không thành công. Từ đó đến thời điểm mà tác giả công bố bài viết này, không có bất kỳ ý tưởng mới nào được sinh ra.
Theo Hồng Nhung - Hoàng Hằng (Lao Động)
Du lịch, GO!
Đảo của rắn và “quái vật”
Là người nhiều năm nghiên cứu về lịch sử phát triển của đảo Côn Lôn, J.C Demariaux - một học giả thuộc Hiệp hội Nghiên cứu Đông Dương đã có nhiều khám phá thú vị. Kết quả nghiên cứu của ông đã được công bố bằng tiếng Pháp trên Tuần báo Đông Dương (Indochine Hebdomadaire Illustré) số 196, ra ngày 1.6.1944 và số 197, ra ngày 8.6.1944, hiện đang được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia I. Đây thực sự là những tài liệu tham khảo có giá trị, xin được giới thiệu sơ lược.
(…) Nằm cách mũi Saint - Jacques (nay là Vũng Tàu) chừng 97 dặm và cửa sông Mê Kông chừng 47 dặm là quần đảo Poulo –Condore, người bản xứ gọi là Côn Lôn hay Côn Nôn (nghĩa là Đảo Rắn, do có rất nhiều loài bò sát sinh sống trên các đỉnh đồi).
Dường như người Tây Ban Nha là những người Âu đầu tiên đặt chân lên quần đảo hồi đầu thế kỷ XVI, bởi trong thời gian chiếm đóng của người Pháp, người ta tìm thấy những đồng tiền in hình Charles - Quint niên hiệu 1521.
Dulichgo
Người Anh đặt chân lên vùng đất này năm 1702, điều đó được ghi lại trong báo cáo của nhân viên Hãng Pháp Ấn - Veret. Ông này chính là người khuyên người Pháp nên chiếm đóng Côn Lôn, bởi đây là “điểm trung chuyển quan trọng đối với các tàu của Trung Hoa, Bắc Kỳ, Ma Cao, Manila, Java”.
Hãng Đông Ấn của Anh (Honorable East Indian Company) đã đi trước người Pháp khi quyết định cho xây dựng một thương điếm ở đảo Côn Lôn lớn, chính Chủ tịch Allen Catchpole đứng đầu thương điếm Chu Sơn, Trung Hoa được giao điều hành thi công công trình này. Hiện người ta vẫn còn có thể nhận ra vết tích sót lại của khu thương điếm là những đống đá, đống đổ nát của lò nung và vài mảnh sứ vỡ vùi dưới các bụi cây (các tài liệu lưu trữ liên quan đến số phận của khu thương điếm này có thể tìm thấy ở Calcutta).
Dưới mỏm đá vươn ra Biển Đông, một vịnh nhỏ đầy cát lọt thỏm giữa khu rừng rậm tạo nên khoảng trống lấp lánh. Đó có thể là bãi cát mà người Anh đã đổ bộ và bắt gặp những con rùa biển khổng lồ. “Quái vật có vảy hoe vàng bò cùng hàng ngàn con nhỏ khác mới nở ra, đó là động vật có nhau thai dính vào bụng” - Allen Catchpole miêu tả.Chúng tôi trung thực và không gây hại cho bất kỳ ai
Côn Lôn đặc biệt thu hút sự quan tâm của người Anh, họ cố gắng thiết lập quan hệ với người dân nơi đây. Thuyền trưởng Gore đã đặt chân lên quần đảo này từ ngày 20 - 28.1.1780 trong lịch trình vòng quanh thế giới với hai chiếc tàu Résolution và Découverte.
Vào thời điểm đó, các đảo Côn Lôn vẫn là đất của triều đình Huế với chừng 30 nóc nhà nằm rải rác. Thuyền trưởng Gore hỏi người dân làm thế nào có thể mua thức ăn dự trữ. Một viên quan theo đạo Cơ đốc tên gọi Luc cho hay, ông ta sẽ bán trâu cho thuyền trưởng, mỗi con chừng 4-5 đồng bạc. Lúc khởi hành, thuyền trưởng Gore tặng viên quan một cái kính và nhờ ông ta chuyển một bức thư tới Giám mục tòa Adran Bá Đa Lộc.
Huân tước Macartney - Đại sứ đặc biệt của Vua Anh Georges Đệ Tam bên cạnh triều đình Trung Hoa - cũng từng dừng chân trên các đảo Côn Lôn trong hai ngày 17 - 18.5.1793. Ông ta muốn xem xem liệu người Pháp đã đổ bộ lên các đảo hay chưa. Một số người trên hai tàu Lion và Indoustan rời thuyền xuống mua thức ăn dự trữ tại một ngôi làng nhỏ, người dân hứa sẽ giúp họ có đủ thức ăn ngay ngày hôm sau. Khi trở lại lấy thức ăn dự trữ như đã hẹn, họ thấy cả ngôi làng trống hoác, cửa nhà mở toang, không vật dụng nào bị mang đi, gia cầm thả rông tự tìm thức ăn quanh nhà. Trong một gian nhà, thủy thủ Anh tìm thấy một mẩu giấy viết bằng tiếng Hán: “Chúng tôi không đủ đông, rất nghèo khổ nhưng trung thực và không có khả năng gây hại cho bất kỳ ai. Chúng tôi từng rất sợ hãi khi thấy những con tàu to lớn cùng những người đàn ông lực lưỡng khi chúng tôi không đủ gia súc và các thức ăn dự trữ khác cung cấp theo yêu cầu của họ. Chúng tôi có rất ít đồ ăn cung cấp cho các ngài và chúng tôi không thể làm điều mà các ngài trông mong ở chúng tôi. Nỗi sợ hãi bị ngược đãi và khát khao được sống đã buộc chúng tôi phải chạy trốn… Chúng tôi để lại trong làng mọi thứ chúng tôi có và các ngài có thể lấy đi, nhưng xin đừng đốt các ngôi nhà của chúng tôi”.
Các tác giả của bức thư trên chắc đã từng bị những người nước ngoài đối xử rất thậm tệ. Đoàn thủy thủ người Anh không lấy bất kỳ thứ gì và để lại trong ngôi nhà món quà tặng kèm theo một bức thư tiếng Hán: “Những chiếc tàu ghé thăm hòn đảo và những người đã đặt chân lên đây là người Anh. Chúng tôi đến chỉ để mua thức ăn tươi và không có ý xấu…”.Dulichgo
Dường như người Anh không có may mắn với vùng đất này, bởi vào lúc tàu của họ bắt đầu nhổ neo rời đi đến Trung Hoa thì tời trên tàu Indoustan bị đứt. Chiếc neo đang kéo lên nửa chừng rơi xuống với tốc lực cực lớn, chiếc tời quay cực mạnh cuốn phăng các thanh chắn được đẽo vuông chừng 6 tấc và dài 16 piê (mỗi piê chừng 30cm) khỏi lỗ đóng, văng tứ tung khiến nhiều người bị thương nằm ngổn ngang trên cầu tàu. Vụ tai nạn khiến viên thuyền trưởng hoảng sợ, vội vã ra lệnh rời đảo, bỏ chiếc neo nằm lại biển sâu.
Cửa ngõ eo biển MalaccaLịch sử “bị chiếm đóng” của các đảo Côn Lôn ít được biết đến. Sau vụ thảm sát do lính Macassar gây ra năm 1705, người Pháp mới tính đến việc chiếm các đảo Côn Lôn. Theo Tạp chí Địa Lý xuất bản năm 1889-1890, Alexis Faure kể lại: Năm 1721, một nhân viên Hãng Pháp Ấn có tên là Renault được giao tiến hành điều tra dân số, khí hậu cũng như hoạt động sản xuất trên các đảo. Trong báo cáo gửi về, Renault nói về sự tồn tại của các sinh vật lạ, sóc và thằn lằn bay. Vào thời đó, Côn Lôn lớn được đặt tên là đảo Orléans để tôn vinh Công tước vùng Orléans của Pháp, tuy nhiên không có bất kỳ công trình nào được dựng lên ở đây.
Năm 1752, Dupleix thu thập thông tin từ các nhà truyền giáo và tiếp quản kế hoạch chiếm đóng Côn Lôn. Bất hạnh thay, ông này bị triệu hồi về Pháp và cuộc chiến Anh – Pháp kéo dài 7 năm đã khiến kế hoạch chiếm đóng Côn Lôn không được quan tâm.
Theo ký giả Charles Maybon, còn có một kế hoạch khác do thương gia Protais-Leroux, người từng có 8-9 năm kinh nghiệm làm việc ở Ấn Độ gửi cho De Machault - Chánh Thanh tra Bộ Tài chính Pháp - ngày 15.5.1755. Trong thư, Leroux trình bày các ưu điểm nếu cho xây dựng một thương điếm ở Côn Lôn, “quần đảo nằm ở cửa ngõ eo biển Malacca” có giá trị chiến lược lớn: “Hòn đảo là nơi trú ẩn cho các tàu Âu đến Trung Hoa; chúng ta có thể trú đông, sửa chữa và đóng vá mọi loại tàu trong cảng phía bắc bằng gỗ xây dựng trong vùng nếu cần. Cảng phía nam sẽ đem lại lợi ích rất lớn”. Dulichgo
Leroux đề nghị cho xây thương điếm càng nhanh càng tốt. Tuy nhiên, tình hình tài chính của Hãng Pháp Ấn không cho phép nghĩ đến kế hoạch to tát ấy. Sau năm 1757, hãng tàu thủy Pháp ngậm ngùi nhìn hãng tàu thủy Anh qua mặt thống trị các biển toàn khu vực Nam Á, trở thành một sức mạnh xâm lược lẫn quân sự.
Kho báuTrong lịch sử Phái bộ Nam Kỳ, Cha Launay viết lại nhật ký của Cha Levasseur bàn về xây dựng một thương điếm năm 1768 ở Côn Lôn. Có thể nói, tất cả các dự án từ năm 1705 của người Pháp mới chỉ dừng lại ở ý tưởng. Năm 1773, cuộc nổi dậy của Tây Sơn nổ ra, giám mục Bá Đa Lộc cùng Nguyễn Ánh chạy trốn trên các đảo dọc bờ biển Nam Kỳ.
Phần lớn dân làng An Hải trên đảo Côn Lôn là hậu duệ của nhà Gia Long, họ còn cất giữ rất nhiều sách cổ viết bằng chữ Hán. Người ta cũng nói về những bộ áo giáp và những khẩu súng mút-kê cũ (sản xuất ở thế kỷ XVI-XVII) được tìm thấy trong một hang động dưới thời chúa đảo Lambert. Khắp nơi trên quần đảo, người ta rỉ tai nhau về những kho báu chôn giấu chưa được tìm thấy.
Ngày 25.11.1896, trong khu vực nhà tù số 1, tù khổ sai Dang Van Tam khi đào hào đã phát hiện 2 chum chứa đầy đồng tiền bạc và vòng vàng. Đó có thể là của cải dự trữ được cất giấu của Nguyễn Ánh. Vào ngày chạy trốn khỏi trùng vây thuyền chiến của quân Tây Sơn, Nguyễn Ánh đã bỏ lại tất cả số vàng bạc đó, tháo thân sang Xiêm.
Thống đốc Nam Kỳ Ducos đã ra lệnh bán rồi chia số tiền thu được thành hai phần bằng nhau: Một nửa nộp cho chính phủ thuộc địa, một nửa trao cho tù khổ sai Dang Van Tam. Ngày 14.1.1897, Thống đốc viết: “Khi một kho báu tình cờ được phát hiện, chiểu theo Điều 716 Luật Dân sự, người phát hiện có quyền hưởng một nửa kho báu, phần còn lại thuộc về người sở hữu đất”.Người nổi dậy bị treo cổ và nguồn gốc ra đời nhà tù khổ sai
Hiệp ước Versailles ngày 28.11.1787 giữa Vua Louis XV và Vua Gia Long do Giám mục tòa Adran Bá Đa Lộc soạn thảo, theo đó Vua Gia Long đồng ý nhượng lại cho Pháp quyền sở hữu các đảo Côn Lôn. Dù có hiệp ước trên nhưng thực tế, không có bất kỳ đơn vị lính đồn trú Pháp nào được triển khai trên quần đảo. Trong chuyến ghé thăm của Huân tước Macartney ngày 17 và 18.5.1793, ông ta không hề gặp một lính Pháp nào ở đây.
Pháp thực sự sử dụng quyền sở hữu quần đảo này vào ngày 28.11.1861, khi ra lệnh tàu hộ tống Norzagaray cập đảo theo lệnh của Đô đốc Bonard - Thống đốc Nam Kỳ đầu tiên, người tuyên bố “muốn hoàn thành sớm nhất có thể những mục tiêu của Hoàng đế Napoléon Đệ Tam”. Theo tài liệu ở Nam Kỳ, tôi (tác giả J.C Demariaux) đã tìm thấy và được đọc biên bản chiếm đảo. Dulichgo
Đó là một tờ giấy vàng bị rách ở giữa vì mối đục: “Hôm nay, thứ năm là ngày 28.11.1861, vào lúc 10h sáng. Tôi tên là Lespès Sébastien - Nicolas Joachim, đại úy hải quân, chỉ huy tàu Hải quân Hoàng gia Norzagaray, hành động theo mệnh lệnh của chính phủ, tuyên bố chiếm giữ nhóm các đảo Poulo - Condore (Côn Lôn), nhân danh Hoàng đế Napoléon Đệ Tam - Hoàng đế của người dân Pháp.
Theo đúng lệnh, tàu Pháp đổ bộ lên đảo Côn Lôn lớn kể từ ngày này. Biên bản chiếm giữ được lập trước sự chứng kiến của các sĩ quan tàu Norzagaray. Biên bản lập trên đất liền, vịnh Tây Nam đảo Côn Lôn vào ngày, tháng, năm trên đây…”. Biên bản được trưng bày tại Hiệp hội Nghiên cứu Đông Dương, sau Nhà triển lãm Sài Gòn.
Khi Pháp đặt chân lên các hòn đảo Côn Lôn, 129 tù binh của triều đình Huế đang bị giam trong một đồn lũy. Ban ngày, số tù binh này được tự do trồng cấy chăn nuôi, nhưng khi đêm đến, tất cả bị cùm xích lại. Phần lớn tù binh đem theo vợ con, sống trong những túp lều lụp xụp quanh đồn, được che chắn bằng phên giậu. Lính đồn trú ở đây gồm 80 người, dưới sự chỉ huy của Quan Chánh - viên quan của triều đình trực thuộc tỉnh Bình Long (nay là tỉnh Hà Tiên). Binh lính đóng quân 1 năm trên các đảo sau đó được thuyên chuyển vào đất liền. Họ không có súng mà chỉ được trang bị giáo mác.
Ngày 15.12.1861, đại úy Durand, chỉ huy tàu Monge thay thế tàu Norzagaray đã tiếp ông Chánh - người bản xứ đứng đầu các đảo. Tình hữu hảo được thể hiện qua những thùng quýt, cam, mít, xoài, bưởi, ngô, khoai lang, thuốc lá, trầu được ông Chánh sai người mang đến biếu các quan lính Pháp. Nhưng quan hệ này không duy trì được lâu, các lính bản xứ xuất thân từ đảo (lính bàu) cùng với các tù nhân nổi dậy chống lại người Pháp.
Dulichgo
Họ bầu một người tên là Nguyệt làm trưởng nhóm, bí mật đóng một con tàu lớn, vạch kế hoạch tiêu diệt hết các thủy thủ Pháp rồi trốn vào đất liền. Một tù khổ sai do quá sợ đã bán tin cho người Pháp, vụ nổi dậy bị dập tắt và Nguyệt bị treo cổ.
Khi làm các công việc thủy lực Hải quân, đại úy hải quân Manen trên tàu Norzagazay nhận thấy các bản đồ của Anh ở thời đó đã mắc lỗi địa lý khá nghiêm trọng. Các đảo Côn Lôn được vẽ dịch hơn 4 dặm về phía đông và hơn 1 dặm về phía bắc so với thực tế. Lỗi này là nguyên nhân làm chệch hướng của các con tàu khi đi ra biển Đông, do không đủ gió nên thường mắc cạn trên các bãi biển Cao Miên và những bản đồ của Anh trở thành công cụ dẫn đường tồi, khiến các thuyền trưởng thiếu kinh nghiệm bị lạc hướng. Người ta nói rằng nước Anh lên tiếng phản đối việc gửi tàu Norzagaray đến các đảo Côn Lôn vì cho rằng về lý thuyết, người Pháp không có bất cứ quyền gì đối với các đảo trên, Hiệp ước Versailles ký với Vua Gia Long đã lỗi thời và Chính phủ Pháp đã thay đổi sau cuộc Cách mạng Pháp.
Ý kiến trên nhanh chóng bị bác bỏ bởi năm sau, Hiệp ước Sài Gòn ngày 3.6.1862 giữa một bên là Hoàng đế Pháp và Hoàng hậu Tây Ban Nha, một bên là Vua Tự Đức, trong đó Vua Tự Đức đồng ý nhường quần đảo và ba tỉnh Biên Hòa, Gia Định và Định Tường (Mỹ Tho) cho Pháp. Từ năm 1862, đô đốc Bonard đã cho xây dựng ở đây một nhà tù khổ sai để giam giữ những người bị kết án từ 1-10 năm tù và đó là nguồn gốc ra đời nhà tù khổ sai sau này.
Tù nhân nữ và sòng bạc
Giám đốc đầu tiên của nhà tù khổ sai là đại úy hải quân F.Roussel - người đã đề nghị Đô đốc Bonard gửi các nữ tù nhân tới Côn Lôn. Ngày 18.3.1862, Roussel viết: “Sự ra đi của vợ các quân tù và tù nhân Cao Miên khiến Côn Lôn không có bóng dáng người phụ nữ. Tôi tin rằng việc đưa những nữ phạm nhân đến đây sẽ là một tài sản đối với vùng đất này, khiến người dân gắn bó với đất đai hơn…”.
Dulichgo
Đô đốc Bonard không nhượng bộ trước mong muốn của cấp dưới mà phải đợi đến thời người kế nhiệm ông ta - Đô đốc Lafont - việc này mới được thực hiện. Nhưng điều này lại khiến viên sĩ quan quản lý đảo không hài lòng. Ngày 29.10.1879, viên sĩ quan này đã gửi bức thư hài hước không ghi rõ ngày tháng tới Đô đốc Lafont: “Hai con gà trống chung sống hòa bình. Một con gà mái đến và chiến tranh nổ ra. Điều đó muốn nói lên rằng, khi số gà trống nhiều hơn số gà mái thì bình yên không còn tồn tại trong cái chuồng gà nữa. Để tránh lộn xộn, tôi buộc phải cách ly hoàn toàn tù nhân nam với tù nhân nữ. Tôi cho rằng các tù nhân nữ không quá xinh và trẻ nhưng Côn Lôn rất hiếm phụ nữ. Các cảnh sát và cai ngục người Âu đã chịu đựng quá nhiều thiệt thòi nên không thể lường trước hậu quả có thể xảy ra...”.
Dịch tả đã khiến cho nghĩa trang của Pháp ở Côn Lôn trở nên chật chội. Dịch bùng phát hồi tháng 4-5.1864 khiến một đội lính đồn trú của Pháp tử vong. Bầu không khí lo sợ bao trùm lên khắp nhà tù khi các lính hải quân và pháo binh chết như ngả rạ, bất chấp nỗ lực chăm sóc của bác sĩ phẫu thuật quân y Viaud.
Sau khi người Pháp chiếm đóng các đảo, quần đảo Côn Lôn được chuyển giao, trực thuộc quản lý của Phủ Thống đốc Nam Kỳ, dưới quyền của một quan cai trị hoặc một sĩ quan, với chức danh “Giám đốc nhà tù và các đảo” (Directeur du pénitencier et des les). Nhà tù giam giữ khoảng 1.500 - 2.000 tù nhân, hàng trăm người trong số đó sống ở nông thôn, trong các trang trại, được giao chăn nuôi và trồng trọt.
Số khác được sai đi đánh cá hoặc tới làm việc ở các lò vôi với nhiên liệu lấy từ dải san hô. Dải san hô ở Côn Lôn không bao giờ cạn kiệt. Năm 1863, trung úy hải quân Bigot hứa với Đô đốc De la Grandière sẽ cho hoạt động 6 lò vôi để cung cấp vật liệu cho Nam Kỳ nhờ nguồn dự trữ san hô dồi dào.
Các khu rừng rậm phủ kín những ngọn núi của đảo Côn Lôn, đỉnh núi cao nhất ở đây cao tới 596m so với mực nước biển. Người Pháp cho xây đường cáp vận chuyển gỗ xây dựng từ trên núi xuống. Các sĩ quan hải quân chiếm đóng đảo dưới thời các đô đốc đã thống kê có 36 loài khác nhau ở đây, tất cả các loại cây gỗ nhiệt đới đều có nhưng hiện tại một số đã biến mất do khai thác và không tái trồng rừng. Dulichgo
Ở đảo Côn Lôn lớn, người ta chỉ còn thấy gỗ sao. Với các loại gỗ khác, người ta phải đến tìm ở đảo Bai Kinh, nơi ngọn hải đăng xây trên đỉnh núi cao 212m so với mực nước biển, chiếu sáng cho tuyến hàng hải Singapore.
Có một thời người ta đã tính đến chuyện phá bỏ nhà tù khổ sai Côn Lôn. Ngày 28.9.1899, Hội đồng Thuộc địa Nam Kỳ ra quyết định phá bỏ nhà tù khổ sai Côn Lôn khi xảy ra dịch bệnh tê phù. Người ta dự kiến chuyển số tù nhân giam giữ tại đây tới 20-30 nhà lao trong đất liền và biến nơi đây thành các công trường lao động. Nhưng đến phút chót, một báo cáo viên có tên là Monceaux đã đưa ra kết luận.
“Tôi tán đồng quan điểm với các quan cai trị cho rằng những kẻ bị kết án phạm tội cần phải chuyển đến các nhà giam ở bên ngoài. Trong những xã hội có tổ chức, người ta luôn tiến hành mọi biện pháp cần thiết để loại tội phạm ra khỏi các trung tâm dân cư” - ông ta viết.
Người ta cũng đưa ra ý tưởng xây một sòng bạc ở đảo Côn Lôn lớn để cạnh tranh với Ma Cao, biến hòn đảo thành điểm hẹn của những người giàu có nhàn rỗi quanh vùng Viễn Đông. Năm 1936, kế hoạch bãi bỏ nhà tù khổ sai Côn Lôn được Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Marius Moutet và Bộ trưởng Bộ Tư pháp Marc Rucart tái khởi động nhưng không thành công. Từ đó đến thời điểm mà tác giả công bố bài viết này, không có bất kỳ ý tưởng mới nào được sinh ra.
Theo Hồng Nhung - Hoàng Hằng (Lao Động)
Du lịch, GO!
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)











































