Hiển thị các bài đăng có nhãn Di tích lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Di tích lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 26 tháng 11, 2015

Tăng Ký: Thị trấn không có tên trên bản đồ

Nằm trên tuyến đường lịch sử nối từ Khe Sanh, Quảng Trị tới Khe Gát, Quảng Bình với tên gọi Đường mòn Hồ Chí Minh, Tây Trường Sơn hay đường Hồ Chí Minh nhánh Tây, ngã ba Tăng Ký, xã Lâm Thủy, huyện Lệ Thủy, Quảng Bình dường như là điểm duy nhất thích hợp cho việc dừng chân của những du khách thích khám phá vẻ đẹp thiên nhiên hoang dã của một vùng núi rừng Trường Sơn vẫn còn nguyên sơ, thưa dấu chân người.

Ngã ba Tăng Ký là nơi có hai bản người Bru -Vân Kiều sinh sống là Tăng Ký và Xa Khía, trong đó, bản Tăng Ký nằm ngay chính tại ngã ba và bản Xa Khía nằm trên sườn ngọn núi cách đó chỉ vài trăm mét. Cả hai bản cũng chỉ chừng dăm chục nóc nhà và hoàn toàn là người Vân Kiều. Do vậy, nếu như không có một quán cơm nhỏ và cây cột ăng-ten ở ngã ba đường thì có lẽ, chẳng ai biết đến địa danh này.

< Sông Long Đại chảy qua địa phận Tăng Ký.

Nhỏ như vậy nhưng vài năm gần đây, người dân sinh sống trên con đường hoang vắng này vẫn gọi là thị trấn Tăng Ký. Cũng bởi vị trí của nó nằm ở ngã ba đường (giao cắt giữa đường Tây Trường Sơn và tỉnh lộ 10 Quảng Bình), và cũng bởi nó nằm ở đoạn giữa chặng đường hơn 200km Tây Trường Sơn, nơi mà mọi tay lái lựa chọn làm điểm dừng chân cho một hành trình dài vất vả.

Dù xung quanh cái ngã ba nhỏ xíu chỉ có duy nhất một hàng cơm, lác đác vài nóc nhà trên những sườn núi dốc xung quanh thì người ta cũng gọi đó là thị trấn, một thị trấn không có tên trên bất cứ bản đồ nào...

Vào buổi trưa, sau một hành trình dài với những cung đèo dốc uốn lượn xuyên qua những cánh rừng già nối tiếp, dù khởi hành từ Khe Gát hay Khe Sanh, những tay lái đều như không hẹn mà gặp tại điểm ngã ba đường đặc biệt này. Sau hơn 100km mãn nhãn với màu xanh của cây lá, mây trời, thỏa thuê với âm thanh núi rừng hòa cùng tiếng chim muông và gió ngàn vi vút, các tay lái thăng hoa cùng những cung đèo uốn lượn.
Dulichgo
< Bia di tich lịch sử Tăng Ký (km 33 đường 10).

Tăng Ký chính là nơi những người yêu thích đi du lịch bằng xe máy, thích khám phá thiên nhiên dừng chân nghỉ lại, dùng một bữa cơm trưa giữa khung cảnh núi rừng và tận hưởng những khoảnh khắc thư thái bên ly cà phê đượm hương sắc Trường Sơn.

Sau bữa trưa đơn giản với măng rừng cá suối, dân phượt thường ngồi cùng nhau, chia sẻ kinh nghiệm đã trải qua trên chặng đường Tây Trường Sơn hoang sơ yên bình ấy. Những địa danh, con dốc, dòng sông, những bản làng… được những người đi du lịch nhắc nhau, đánh dấu vào bản đồ để cùng khám phá, cùng thỏa đam mê.

< Đường tỉnh lộ 10 nơi có những rừng cao su thẳng tắp, bạt ngàn.
Dulichgo
Ngã ba Tăng Ký còn là điểm cuối của tuyến đường tỉnh lộ 10 Quảng Bình, có tên gọi cũ là TL 564 nối Trường Sơn Đông và Trường Sơn Tây hay có tên gọi khác là đường Quyết Tiến, nơi có Nông trường Quyết Tiến với những rừng cao su, rừng thông xanh xếp hàng thẳng tắp, bạt ngàn. Và hơn cả, tuyến đường tỉnh lộ 10 còn là tuyến đường sở hữu những con đèo đẹp vào bậc nhất ở Trường Sơn.

Tăng Ký, ngã ba đường như một điểm đến tự nhiên của những người yêu du lịch khám phá, đam mê phượt, nơi dừng chân như điểm hẹn ngẫu nhiên của những người yêu núi rừng Trường Sơn và vẻ đẹp hoang sơ của cung đường Trường Sơn Tây huyền thoại. 

Theo Vũ Thanh (An Ninh Thủ Đô)
Du lịch, GO!

Thứ Năm, 19 tháng 11, 2015

Bảo tàng Kiên Giang

Bảo tàng tỉnh Kiên Giang tọa lạc tại số 27, đường Nguyễn Văn Trỗi, thuộc địa phận phường Vĩnh Thanh Vân, ngay trung tâm thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Đây là ngôi nhà cổ duy nhất của địa chủ phong kiến còn sót lại ở Rạch Giá, đã hơn 100 năm kể từ ngày đặt viên gạch đầu tiên.

Bảo tàng Kiên Giang từ lúc xây dựng đến nay được gọi với rất nhiều tên như Bảo tàng tỉnh Kiên Giang, Cái Nhà Lớn. Sau này ông Trần Quang Chiêu (con thứ ba của ông Trần Nhuệ) thừa hưởng ngôi nhà nên công trình còn có tên gọi là nhà ông Ba Chiêu.
Nơi đây đã từng đóng vai trò là  nhà ở của một địa chủ, Tòa án tỉnh, Sở Mỹ, văn phòng công ty, Tỉnh hội phụ nữ... đến trụ sở Ty văn hóa thông tin trước khi trở thành bảo tàng trưng bày hiện vật như ngày nay.

Bảo tàng do địa chủ Trần Nhuệ khởi công xây dựng ngôi nhà năm 1911, đến năm 1920 mới hoàn thành. Bảo tàng Kiên Giang được xây dựng theo lối kiến trúc “nội nhất ngoại quốc”,  bên ngoài được thiết kế theo kiểu biệt thự Pháp, bên trong trang trí nội thất theo kiểu nhà truyền thống Việt Nam.

Bảo tàng nằm trong khuôn viên rộng khoảng 2.000 m2, gồm từ đường 3 gian 2 chái, nhà bếp, nhà ở, sân Thiên tĩnh.

< Tinh hoa kiến trúc của ngôi nhà tập trung ở từ đường, được xây dựng theo kiểu kết cấu khung, bằng gỗ đỏ và căm xe…
Dulichgo
Từ đường xây dựng theo kiểu kết cấu khung làm bằng gỗ đỏ và căm xe. Đất đắp bền lấy ở biển, chở về bằng xe rùa và dùng đá kè làm móng, vì vậy phải mất 3 năm mới làm xong nền nhà. Nhà được xây  dựng liên tục trong 10 năm với đội ngũ thợ xây, thợ mộc đón từ Gia Định về, thợ chạm khắc đều là thợ giỏi từ miền Bắc vào.

< Nét đặc sắc của nội thất thể hiện ở những mảng chạm khắc điêu luyện tinh tế và mang đậm xu thế hướng nội, vươn tới sự hòa nhập với thiên nhiên để tạo nên một tổng thể hoàn chỉnh. Hoa văn trang trí rất phong phú, từ các dạng hình học truyền thống, cây hoa (tùng, trúc, cúc, mai), chim (dơi, công, phượng, trĩ..), quả (đu đủ, nho, lựu..), các loại dây leo cho đến thú vật (hươu, nai...).

< Đất đắp nền nhà lấy ở biển về chở bằng xe con rùa và dùng đá kè để làm móng. Thời gian hoàn thành xong nền nhà mất 3 năm.

Vật liệu xây dựng chủ yếu là gỗ quí khảm xà cừ, gạch, ngói , tất cả đều mua từ miền Đông Nam Bộ. Nội thất bên trong nhà có các mảng trang trí chạm khắc đề tài chủ đạo là đời sống thế tục, hoa văn trang trí từ hoa với tùng, cúc, trúc, mai đến chim như dơi, công, phượng, trĩ, các loại quả như đu đủ, nho, lựu hay các loại dây leo, thú vật như hươu, nai.

< Ngôi nhà được xây dựng liên tục trong 10 năm với đội ngũ thợ xây, thợ mộc được đón từ Gia Định về; thợ chạm khắc đều là thợ giỏi đón từ Miền Bắc.
Dulichgo
Trong thời gian sưu tầm, trung bình mỗi năm bảo tàng sưu tầm về trên 350 hiện vật, tư liệu, hình ảnh. Đến nay, bảo tàng đang lưu giữ trên 22.000 hiện vật, tư liệu, hình ảnh trong đó có 1.061 hiện vật gốc đa dạng về chất liệu, phong phú về loại hình.

Tuy nhiên, thực tế bảo tàng chỉ trưng bày khoảng 5% hiện vật, do bị giới hạn bởi diện tích bảo tàng và kiến trúc nhà nên không trưng bày được nhiều. Còn số còn lại được bảo quản trong kho bảo quản hiện vật, theo tình hình hiện tại vì số lượng hiện vật đem về ngày càng nhiều dẫn đến quá tải, trong khi diện tích kho không thể mở rộng và đang trong tình trạng xuống cấp.

Hiện tại bảo tàng là nơi lưu giữ  trưng bày hiện vật bảo tàng, nhưng có rất ít người biết rằng đây là một di tích có kiến trúc nghệ thuật dân dụng đẹp, cổ kính duy nhất của địa chủ phong kiến còn sót lại. Năm 1990, nơi này được xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia.

Theo Tin Nóng Du Lịch, ảnh Kiến Thức
Du lịch, GO!

Thứ Ba, 17 tháng 11, 2015

Thăm ngục Tố Hữu giữa đại ngàn Tây Nguyên

(iHay) - Vượt đèo Lò Xo ở địa phận huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum, du khách sẽ gặp ngục Tố Hữu nằm khép mình giữa núi rừng hùng vĩ và nguyên sơ.

< Con đường đèo uốn lượn, nằm vắt vẻo trên những sườn núi đưa khách đến với ngục Tố Hữu.

Ngục Tố Hữu là di tích lịch sử đặc biệt cách thành phố Kon Tum khoảng 90km về hướng tây bắc, cách thị trấn Đăk Glei 20 km về hướng bắc. Nếu đi từ hướng bắc theo quốc lộ 14, để đến ngục Tố Hữu bạn phải vượt qua đèo Lò Xo với những khúc quanh liên tiếp cực kỳ nguy hiểm.

< Một khúc cua tay áo trên đèo Lò Xo để đến với ngục Tố Hữu.

Đúng như tên gọi của nó, đèo Lò Xo là nơi rất thu hút đối với những người thích du lịch mạo hiểm. Hiện nay, toàn bộ tuyến đường đèo này đã được tu sửa, nâng cấp nhằm đảm bảo an toàn cho những chuyến đi.

< Tấm biển chỉ dẫn từ đường lớn để du khách dễ dàng không bị lạc đường.
Dulichgo
Nằm trên cung đường của đèo Lò Xo, từ đường lớn bạn sẽ phải rẽ vào đường nhỏ dốc ngược với tấm biển chỉ dẫn để đến với ngục Tố Hữu.

< Con đường vào ngục được trải bê tông, dáng hình uốn lượn đẹp mắt.

Ngục Tố Hữu thực chất là tên gọi sau này được người dân quen gọi vì đây từng là nơi giam cầm nhà thơ cách mạng.

< Nhìn từ ngục Tố Hữu phóng tầm mắt ra xa là thiên nhiên hùng vĩ.

Ngục được xây dựng trong khoảng thời gian từ năm 1932 đến 1942, với tên ban đầu có tên là ngục Đăk Glei. Đây là nơi ở và làm việc của đồn trưởng Bê-li-ô. Ngoài Tố Hữu, nơi đây còn giam cầm nhiều nhân vật chủ chốt khác của cách mạng Việt Nam mà sau đó trở thành những cán bộ cao cấp của Đảng và Chính phủ như Nguyễn Duy Trinh, Chu Huy Mân, Lê Văn Hiến, Huỳnh Ngọc Huệ...

< Căn phòng giam đá xanh xám lạnh lẽo giờ mở cửa cho du khách tham quan tự do.
Dulichgo
Trải qua gần 100 năm thăng trầm, ngục Tố Hữu hầu như vẫn còn vẹn nguyên dấu vết thời gian với những lớp đá màu xanh, xám lạnh.

< Những khung cửa căn phòng giam xưa giờ nhìn ra xa là phong cảnh thiên nhiên hùng vĩ.

Những căn phòng giam của 3 khu nhà giam khác nhau dù được mở cửa cho khách tham quan từ nhiều năm nay nhưng vẫn mang không khí nặng nề của một thời kỳ đau thương nhưng bất khuất, kiên cường trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

< Con dốc đứng nối giữa các khu nhà giam khác nhau.

Khu giam cầm chính nằm ở trên ngọn đồi cao nhất, nằm sát ngay khu nhà chỉ huy. Khu căng an trí được xây dựng năm 1932 gồm 3 dãy nhà xung quanh được rào kín bằng dây kẽm gai, chỉ chừa một lối nhỏ ra vào nằm bên dưới sườn núi.

< Những hàng rào dây kẽm gai được đặt san sát lớp trong lớp ngoài.
Dulichgo
Nếu nhìn từ xa, 3 ngôi nhà được lợp mái lá này dễ khiến người khác nhầm tưởng là nhà ở. Nơi đây đã giam cầm hơn 100 chiến sĩ. Trong khi đó, từ khu ngục chính, dưới chân con dốc dựng đứng là khu biệt giam được xây dựng sau cuộc vượt ngục của nhà thơ Tố Hữu và Huỳnh Ngọc Huệ.

< Những hàng rào dây kẽm gai được đặt san sát lớp trong lớp ngoài.

Nếu như ngày xưa, ngục Tố Hữu nằm chơ vơ giữa núi rừng đại ngàn, là nơi giam giữ khổ sai của các chiến sĩ cách mạng thì ngày nay, nơi này trở thành điểm du lịch thu hút rất nhiều du khách. Ngoài vẻ quyến rũ và mạo hiểm của đèo Lò Xo, con đường dẫn đến với ngục Tố Hữu cũng khiến những người ưa mạo hiểm thích thú bởi vẻ hùng vĩ của thiên nhiên, núi rừng.

< Khu nhà biệt giam được xây dựng sau sự kiện nhà thơ Tố Hữu vượt ngục.

Con đường bạt núi nằm vắt vẻo trên những sườn đồi tựa như con trăn khổng lồ. Đứng ở bất kỳ điểm nào trên cung đường này đều có thể chiêm ngưỡng được thiên nhiên rộng lớn nơi mây trời. Phía xa xa, dưới những chân núi, thung lũng là những bản làng của người dân tộc. Bởi vậy, đến với ngục Tố Hữu không chỉ giúp ta thêm hiểu về truyền thống đấu tranh quật khởi mà còn thêm yêu mảnh đất cao nguyên đại ngàn.

Theo Đào Minh (iHay.Thanhnien)
Du lịch, GO!

Thứ Bảy, 14 tháng 11, 2015

Tận mục pháo đài cổ Đồn Cao - Hà Giang

Nằm trên đỉnh núi Đồn Cao (còn gọi là đỉnh Đá Pháp) thuộc địa phận tổ 4 thị trấn Đồng Văn, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang, pháo đài cổ Đồn Cao là một công trình quân sự cổ còn được bảo tồn khá tốt ở khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam.

< Đỉnh núi Đồn Cao ở thị trấn Đồng Văn.

Pháo đài cổ Đồn Cao được xây dựng vào khoảng năm 1925 trên đỉnh núi đá có độ cao 1.200 m so với mực nước biển bằng các vật liệu địa phương.

< Đường lên Đồn Cao.

Lịch sử của Đồn Cao gắn liền với quá trình chiến đóng Hà Giang của thực dân Pháp.

Kể từ khi kiểm soát vùng đất này năm 1887, người Pháp đã không ngừng xây dựng các lỵ sở, đồn bốt nhằm mục đích cai trị và chống lại cuộc đấu tranh vũ trang kháng Pháp của người dân Việt Nam nói chung và người dân ở Đồng Văn, Hà Giang nói riêng.
Dulichgo
Pháo đài Đồn Cao được xây dựng vào khoảng năm 1925 trên đỉnh núi đá có độ cao khoảng 1200 m so với mực nước biển bằng các vật liệu địa phương.

Công trình gồm 2 tầng, tầng hầm rộng có nhiều ngách, tầng nổi có một sân rộng và nhiều điểm nghỉ.

Các bức tường ở đồn được xây dựng bằng đá vôi Trùng Thoi, cao trung bình 6-10m, dày 80cm.

Trên tường thành có nhiều lỗ châu mai.
Dulichgo
Men theo chân tường thành có lối đi gồm 97 bậc đá cũng được xây bằng đá vôi Trùng Thoi.

Hai góc phía Nam của pháo đài có 2 lô cốt.

Ngoài ra phía dưới giáp với vách đá dựng đứng từ dưới lên có một khu nhà nhỏ dùng làm nơi ăn uống và kéo đồ từ chân núi lên bằng ròng rọc.

Qua thời gian dài mưa gió Đồn Cao đã bị hỏng hóc đi nhiều, các vách tường nhiều chỗ đã bị hỏng, khu nhà phía dưới gần như đã hỏng hoàn toàn chỉ còn trơ lại một đoạn tường lở lói.
Dulichgo
Bên trong tầng hầm.

Năm 2013, pháo đài Đồn Cao đã được trùng tu phần tầng hầm và giao thông hào, còn ngôi nhà phía dưới và ròng rọc kéo đồ vẫn giữ nguyên hiện trạng.

Đứng trên Đồn Cao có thể chiêm ngưỡng toàn cảnh thị trấn Đồng Văn nếu ngày không sương mù.

Ngày nay pháo đài Đồn Cao là một điểm tham quan thú vị dành cho du khách khi ghé thăm cao nguyên đá Đồng Văn.

Theo Quốc Lê (Kiến Thức)
Du lịch, GO!

Thứ Hai, 2 tháng 11, 2015

Tìm về Mái đá bản Mòn

Mái đá bản Mòn là di chỉ Khảo cổ học thuộc xã Thôm Mòn huyện Thuận Châu tỉnh Sơn La.

Di tích ghi lại dấu ấn văn hóa cổ xưa nhất từ thủa bình minh của loài được tìm thấy ở Sơn La do nữ học giả người Pháp bà M.Coolani phát hiện và khai quật tháng 5-6/1927 thu lượm được nhiều loại hình hiện vật quý hiếm. Qua đó khẳng định trên đất Sơn La có người Việt cổ sinh sống. Văn hóa tiền - Sơ sử Sơn La là một mảng màu đặc sắc của cư dân cổ ở miền Tây Bắc Việt Nam.

Di chỉ mái đá bản Mòn có 6 mái đá, tuy nhiên qua quá trình nghiên cứu có 2 mái đá phía Tây và Đông có vết tích cư trú của người Việt cổ.

Những công cụ tìm thấy tại di chỉ gồm có: Bôn tứ giác, rìu có chuôi tra cán, rìu mài toàn thân vát một mặt, đục tứ giác mài nhẵn toàn thân lưỡi vát, vòng tay bằng đá được chế tác bằng kỹ thuật khoan tác lõi, công cụ hình đĩa, phác vật, mảnh tước, phế loại...
Dulichgo
Như vậy tại Mái đá bản Mòn đã có công xưởng chế tác công cụ lao động bằng đá phục vụ cho nhóm cư dân trong vùng qua hình thức trao đổi.

Trong quá trình khai quật tại di chỉ, ngoài việc tìm thấy nhiều loại hiện vật bằng đá; Các nhà nghiên cứu còn phát hiện những mảnh gốm có họa tiết hoa văn phong phú và một số loại hình khác. Tất cả những hiện vật được khai quật tại di chỉ mái đá bản Mòn hiện đang được lưu giữ, trưng bày, giới thiệu tại Bảo tàng tỉnh Sơn La.

Tìm về với di chỉ khảo cổ học Mái đá bản Mòn, du khách không những được tham quan tìm hiểu về lịch sử phát triển của loài người, được tận mắt quan sát những hiện vật là công cụ lao động, đồ trang sức bằng đá, mảnh gốm...
Dulichgo
Tất cả đã tái hiện một phần cuộc sống của cư dân cổ cư trú dưới Mái đá bản Mòn... và ngắm cảnh đẹp của mái đá là ngôi nhà chung của người Việt cổ; Du khách sẽ được tận hưởng không khí trong lành, tham quan bản Mòn là bản văn hóa đậm nét truyền thống với hương vị ẩm thực vùng Tây Bắc và điệu xòe với lời hát inh lả ơi làm sao xuyến lòng người.

Theo Sơn La Tourism
Du lịch, GO